Bạch nhật quỷ hồn - Hồi 14

Bạch nhật quỷ hồn - Hồi 14

Quá giang tảo quần ma
Lâm trung tầm khang lệ

Ngày đăng
Tổng cộng 22 hồi
Đánh giá 9.8/10 với 676964 lượt xem

Mọi người cao giọng hoan hô, nhưng Hãn Thanh dường như đang đắm chìm nỗi ưu tư nào đấy, nên chỉ gượng cười. Chàng đã nhận ra dáng đi tập tễnh của hán tử áo đen, người đã mách nước cho Tôn giả, Y chính là Tư Không Cẩn, ái tử của Nam Thiên tổng giám Tư Không Nhạ. Như vậy, phe Ngũ Long bang đã thực sự liên kết với Hắc Hồ bảo, và cuộc khiêu chiến hôm nay cũng là một âm mưu. Có lẽ giờ đây Hầu phủ đang bị đối phương tập kích.
Hãn Thanh gọi Tứ vệ và nói rõ nguy cơ cho Quân giáo chủ nghe.
Họ Quân căm hận nói :
- Chúng ta sẽ kiêm trình ngày đêm về Lạc Dương, may ra còn kịp!
Hãn Thanh tự lự :
- Tại hạ âm thầm rời trang nên chưa chắc đối phương đã phát hiện được. Có lẽ trinh sát Ngũ Long bang đang trên đường trở về báo tin rằng tại hạ không có mặt ở Hầu phủ, để bọn Sơn chủ Vu Sơn xuất quân! Chúng ta đi thôi!
Quân Khải Siêu giao đám thủ hạ cho một Hộ pháp mũ bạc, chọn ra mười con ngựa tốt nhất đưa chín lão Ngân Khôi còn lại đi theo Hãn Thanh.
Tổng cộng là mười lăm thớt ngựa tung vó phi nước đại về Nam khiến bụi trên đường bay mù mịt.
Quần hào đã lõm bõm nghe được câu chuyện, cũng kéo nhau đuổi theo.
Trưa hôm sau, bọn Hãn Thanh đã vượt được ba trăm dặm đường, vừa lúc lũ ngựa kiệt sức. Hãn Thanh và Tứ vệ dặn dò Quân giáo chủ rồi giở phong khinh công thượng thừa, lao vút đi.
Phe Thần Ngưu giáo không có được thân pháp thần tốc đành đi sau một bước!
Hãn Thanh và Tứ vệ vừa chạy vừa ăn vội mấy cái bánh bao, bánh hấp hay ngô luộc chẳng dám dừng chân!
Chiều tối hôm ấy, năm người đến bờ Bắc Hoàng Hà. Hãn Thanh lao thẳng xuống dòng nước đục ngầu, lạnh lẽo, bơi qua sông. Tứ vệ đã bủn rủn đôi chân nhưng cũng nghiến răng cố bám theo. Thời gian lúc này rất quí giá, không thể sang sông bằng những con đò ngang già nua chậm chạp kia được đến bờ Nam, Hãn Thanh tiếp tục lao đi như cơn lốc, cuối canh hai đã đến bờ sông Lạc Hà. Bên kia chính là rừng cây phía sau tòa trang viên mới mua.
Hãn Thanh thở phào khi thấy nhà mình vẫn êm ả. Dưới ánh trăng mười sáu rạng rỡ, chàng đứng trên bờ sông nghỉ ngơi đôi chút và cũng để chờ U Linh tứ vệ.
Hơn nửa khắc sau, bốn gã quỷ tốt đến nơi, thì bên kia sông vọng lại tiếng hú lảnh lót của đôi vượn tuyết. Hãn Thanh giật mình nhìn sang thấy một đám mây đen đang vần vũ trên đầu tòa trang viện và văng vẳng có tiếng sáo vi vút.
Do khoảng cách quá xa nên chàng không thể nhận rõ sự việc, nhưng căn cứ vào tiếng hú cấp bác của Đại Bạch, Hãn Thanh cũng hiểu rằng đám mây kia không hề đơn giản.
Chàng lao vút xuống nước bơi đi như kình ngư rẽ sóng. Khi còn cách bờ Nam vài chục trượng, Hãn Thanh phát hiện tiếng sáo xuất phát từ một chiếc thuyền gần đấy!
Chuyện thổi sáo đêm trăng là các thú vui của các tao nhân mặc khách không có gì đáng nói. Chỉ lạ ở một chỗ giai điệu lệch lạc, chẳng êm tai chút nào cả, nghe như tràn đầy sát khí. Và đám mây đen kia liên tục sa xuống tòa trang viện, theo những âm thanh rời rạc của cây sáo.
Lúc này, tòa trang viện đã sáng rực đèn đuốc, tiếng người reo hò vang dội, hòa với những âm thanh kỳ quái của đám mây. Hãn Thanh kinh hãi hiểu rằng hàng vạn con dơi đang tấn công người thân của mình.
Chàng lặng lẽ lặn một hơi đến sát chiếc thuyền kia, trồi lên nhìn thử.
Dưới ánh đèn bão lù mù, một hán tử tứ tuần mặc y phục sơn cước, tai đeo vòng vàng, đang ngồi nhắm mắt thổi sáo, trên thuyền là hàng chục chiếc lồng tre lớn tỏa mùi dơi hôi hám.
Không còn sợ lầm lẫn, Hãn Thanh bám vào mạn thuyền, tung mình giáng long chưởng vào hán tử thổi sáo. Chưởng vỗ nát thủ cấp của gã và đánh thủng đáy thuyền ngay tức khắc.
Mặc cho chiếc thuyền gỗ chìm dần xuống đáy sông. Hãn Thanh cấp tốc bơi nhanh vào bờ. Chàng mừng rỡ thấy đàn dơi quỷ quái đã bốc lên cao và bay đi mất.
Hãn Thanh vượt tường rào, lướt qua rừng cây và bị chặn lại. Chàng đưa tay chụp lấy thanh trường kiếm của gã môn nhân rồi hạ giọng :
- Ta đây Mộ Dung Tùy!
Chàng thuộc lòng Mộ Dung kiếm pháp, biết trước hướng đi của lưỡi kiếm nên mới đắc thủ dễ dàng như vậy, gã đội trưởng phòng vệ vui mừng nói :
- Tạ Ơn trời phật! Hầu gia về kịp lúc!
Hãn Thánh nói nhanh :
- Còn U Linh tứ vệ ở phía sau!
Nói xong, chàng phi thân đi tiếp, thầm hài lòng vì cách bố trí của Chu Minh. Tuy gặp nguy biến mà bọn thủ hạ vẫn vững vàng, bám chặt vị trí phòng thủ!
Hãn Thanh vượt qua khu rừng, và nghe tiếng quát tháo càng lúc càng gần. Thì ra trận chiến xảy ra ngay vườn hoa phía sau khu hậu viên!
Phe đối phương chỉ có đúng năm người. Gồm Sơn chủ Vu Sơn Bộc Ly Bôi, Nam Thiên tổng giám, Phù Dung phu nhân, Bạch Diện Vũ Sĩ, Hà Lai Minh và lão già lạ mặt tai đeo vòng vàng!
Hãn Thanh đoán rằng bọn họ ỷ vào đàn dơi mà đột nhập, bất thần xuất thủ cố bắt cho được Hầu gia và thê thiếp của chàng để làm áp lực. Nhưng may thay, chàng về kịp lúc, giết chết gã điều khiển dơi nên kế hoạch của đối phương bị phá sản.
Tuy bị vây chặt nhưng Bộc Ly Bôi không hề lép vế, vẩn thản nhiên tung hoành. Chỉ riêng mình lão cũng đủ khiến bọn Tề Phi Tuyết phải vất vả rồi.
Phe Hầu phủ gồm Tề tổng giám, năm vị Phán quan, Hà Hồng Tập, Bạch Nguyên Giáp, Nhất Bất Thông. Tuy họ đông hơn nhưng lại bị đối phương áp đảo. Nếu không có mấy chục quỷ tốt, quỷ hồ liều mạng xông vào hỗ trợ thì họ đã thua từ lâu rồi.
Đối thủ của Sơn chủ Vu Sơn là Tề Phi Tuyết. Tây Môn Thủy và Khuất Quì. Ba người râu tóc dựng ngược, liên tục lao vào tấn công Bộc Ly Bôi. Tuy có ảo ảnh thân pháp nhanh nhẹn tuyệt luân nhưng họ cũng đã thọ thương vì Tiên Thiên Tam muội chưởng pháp. Y phục cháy nám, miệng rỉ máu tươi.
Sáu người còn lại cũng rất thê thảm vì bản lĩnh kém đối phương. Lợi hại nhất là Phù Dung phu nhân. Không hiểu mụ có linh đan tiên dược gì mà mau chóng chữa lành thương thế, võ công hồi phục như xưa. Thanh trường kiếm trong tay mụ vun vút như ánh chớp, chiêu thức quỷ dị không lường.
Bọn ma nhân nhà Mộ Dung ôm kiếm lăn xả vào, không hề biết sợ, hết đợt này đến đợt khác nên bọn ác ma tuy chiếm thượng phong mà không sao kết liễu được cuộc chiến.
Còn đám quỷ hồ, quỷ tốt hợp chưởng cố đánh bạt những luồng chưởng phong hôi hám, độc hại của lão già đeo vòng tai. Một mình lão mà phải đánh với mười gã quỷ tốt nên không phát huy được bản lĩnh.
Hãn Thanh không thấy đôi vượn hiểu chúng đã bảo vệ Hầu gia và ba nữ nhân. Chàng đang định lướt vào tấn công Sơn chủ Vu Sơn tai nghe Đại phán quan quát vang :
- Đừng để Phù Dung phu nhân rảnh tay mà phóng độc trùng!
Thì ra mụ ta đã nhảy đến sau lưng Nam Thiên tổng giám và Bạch Diện Vũ Sĩ, rút trâm xõa tóc.
Hãn Thanh không dám chần chờ phi thân thật nhanh, lấy đà tung mình lên không trung, lao vào giữa chiến địa ập xuống đầu Mạc Đăng Quỳnh. Mụ kinh hãi múa kiếm đón chiêu, nhưng không biết rằng người mới đến lại là Hãn Thanh, vì thanh kiếm trong tay chàng là Hàn Băng kiếm.
Hãn Thanh đã dồn hết toàn thân công lực vào chiêu “Tả Hữu Bình Phân”, chiêu thức này lấy ý của đao pháp, rất thích hợp với thanh kiếm không có mũi của chàng!
Lúc này, kiếm biến thành đao lực đao nặng như núi thái, chặt phăng trường kiếm và nhắm đỉnh đầu mụ yêu bà mà xả xuống. Phù Dung phu nhân hồn phi phách tán, nghiêng người tránh né thần chết. Nhờ phản ứng thần tốc nên Hàn Băng kiếm của Hãn Thanh chỉ chạm được vào xương vai và chặt phăng cả cánh tay tả của mụ ta.
Nhưng như vậy cũng quá đủ để Phù Dung phu nhân gào lên ghê rợn, bỏ của chạy lấy người. Thanh kiếm trong tay mụ xoáy tít, hóa thanh chiếc kén bạc bao quanh thân thể, đánh bạt mọi ngoại lực. Kể cả hàng rào quan quân bên ngoài cũng không cản nổi Mạc Đăng Quỳnh.
Tân Tổng binh Lạc Dương có vợ họ Mộ Dung nên đã nhanh chóng đưa quân đến hỗ trợ, vây chặt vòng ngoài trang viện.
Hãn Thanh quay ngoắt lại, lao về phía Nam Thiên tổng giám Tư Không Nhạ, lão cáo già này đã tận mắt chứng kiến cảnh chàng chặt tay Phù Dung phu nhân nên sợ khiếp vía, bỏ chạy ngay, và miệng gọi vang :
- Rút lui thôi! Tiểu quỷ Hãn Thanh đã về rồi!
Khinh công ảo ảnh của lão rất cao cường nên Hãn Thanh bỏ qua, lướt đến trận địa của Sơn chủ Vu Sơn.
Lão ác ma cười nhạt :
- Hay lắm! Để xem hôm nay ngươi cón ám toán lão phu được nữa hay không?
Hãn Thanh chẳng nói chẳng rằng, ôm kiếm lao thẳng vào đối phương.
Bộc Ly Bôi dồn chân khí bảo vệ thân thể rồi nghiến răng múa tít song thủ, bủa lưới chưởng xanh lè phủ kín Hãn Thanh.
Tề Phi Tuyết và nhị vị Phán quan cũng quát vang liên thủ giáp chưởng vào họ Bộc để hỗ trợ cho Hãn Thanh. Nhờ vậy chàng vượt qua được màn chưởng phong của Bộc Ly Bôi và chiêu “Thái Cực Sinh Lưỡng Nghi” đã phát huy hiệu dụng.
Sơn chủ Vu Sơn nghe hơi thép lạnh toát xâm nhập vào màn cương khí hộ thân. Kinh hãi đảo bộ lùi nhanh, nhờ vậy thân hình lão không đứt thành hai đoạn mà chỉ bị rách một đường sâu hoắm nơi hông trái.
Bộc Ly Bôi đau đớn và kinh hoàng tung mình đào vong, lão liên tục tung chưởng để mở đường nên không ai cản nổi.
Lão già đeo vòng cũng thoát đi trước đó rất dễ dàng nhờ độc chưởng chỉ còn Bạch Diện Vũ Sĩ Hà Lai Minh bị Tam, Tứ phán quan đánh chết ngay!
Mọi người hoan hỉ reo hò, mừng cho chiến thắng bất ngờ. Gã Tổng binh họ Lâm mò vào bái kiến Hầu gia rồi rút quân.
Bạch Thần Y cười ha hả :
- Thanh nhi không về kịp thì bọn ta đến khốn khổ với bầy dơi hôi hám kia! Cả Thiên Địa Mê Cầu cũng chẳng làm gì được chúng.
Đại phán quan tiếp lời :
- Bọn lão phu tính toán rất chu đáo, nhưng lại không ngờ đến sự xuất hiện của đàn dơi! Chính vì vậy những ổ mai phục của chúng ta mới bị vỡ, để đối phương vào được đến tận đây.
Nhất Bất Thông Chu Minh cằn nhằn :
- Phù Dung phu nhân là bào tỷ Độc giáo chủ Mạc Khải Thiều. Lão ta mà đích thân xuất trận, mang hết đàn độc vật đến đây thì nguy.
Hãn Thanh giật mình :
- Vậy lão già đeo vòng lúc nãy là ai?
Tề Phi Tuyết đỡ lời :
- Lão ta chỉ là một Hộ pháp của Độc giáo mà thôi!
Tam phán quan Lâm Trúc Bạch cười bảo :
- Y phục của Thanh nhi và các vị đều cháy nham nhở cả rồi, sao không vào thay áo rồi hãy bàn huyên.
Cuối tháng tám. Hầu phủ đã xây dựng xong, mọi người dọn về nhà mới, nhưng không có tiệc tân gia. Tuy chẳng nói ra nhưng ai cũng ưu tư vì đàn độc vật đất Miêu Cương.
Bạch Thần y cắm cúi nghiên cứu cố tìm ra loại thuốc có thể chống lại rắn, rết, dơi, ong... Dược phương thì đã có nhưng một số dược liệu lại nằm ở rừng Vân Qúi chẳng thể đến đấy mà lấy về ngay được.
Chim câu của Cái bang đã bay đi, nhưng đường dài mấy ngàn dặm, muốn vận chuyển số dược thảo ấy về Lạc Dương cũng phải mất hai, ba tháng!
Trong lúc chờ đợi, Chu Minh đề nghị dùng lửa để đối phó. Dầu mỡ được mua về rất nhiều và một đường hào đã được đào quanh phủ, cách mé trong chân tường tám trượng.
Lúc có biến, đường hào này sẽ được đổ đầy dầu trở thành hàng rào ngăn chặn lũ độc vật. Ngoài ra, cần có một số phương pháp phòng vệ khác nữa.
Mười ngày sau, Tiểu Linh Miêu đến bào rằng Phân đà Cái bang Hà Bắc đã phát hiện một nữ nhân áo trắng tóc xõa ở vùng Đường Sơn, sát bờ Vịnh Bột Hải. Nữ nhân này bị điên loạn nhưng cực kỳ xinh đẹp và khinh công nhanh như gió thoảng. Có khả năng nàng ta chính là Trịnh Tiểu Thuần!
Hãn Thanh mừng như sống lại, lập tức khởi hành ngay! Chàng cỡi Đà nhi nên không ai có thế theo được. Tiểu Linh Miêu đành phải trao lệnh phù Cái bang cho chàng, lòng nuối tiếc chuyến đi này!
Hầu phủ có mật thất kín đáo, kiên cố nên có thể đưa đôi Tuyết Vượn ra chiến đấu, lúc ấy lực lượng sẽ mạnh hơn. Vì vậy, Hãn Thanh yên tâm lên đường.
Tề Đạm Vân đã hoàn toàn bình phục nhưng Lạc Bình và Hồng Hương sắp đến kỳ sanh nở nên nàng phải ở lại để đỡ đần cho họ!
Hãn Thanh nóng lòng muốn gặp mặt Tiểu Thuần, phóng ngựa rất nhanh. Đà nhi lại là linh vật, sức đi ngàn dặm nên chỉ mất mười bốn ngày đã đưa được chủ nhân đến Trực Cô, cách Đường Sơn hai trăm dặm Lão Hầu Gia có một bằng hữu ở ngoại thành phía Đông bắc nên Hãn Thanh đi thẳng đến trao thư.
Âu Dương Cát trước đây là người Lạc Dương học chung thầy đồ với Mộ Dung Cẩn. Năm ba mươi tuổi, Âu Dương Cát chết vợ, sinh ra yếm thế bỏ nhà xin vào làm đệ tử phái Thượng Thanh!
Giờ đây, ông ta đã trở thành một đạo sĩ già nua, đạo danh là Nghĩa Huyền chân nhân, chấp chưởng một đạo quán rất lớn ở Trực Cô!
Chân nhân đang tọa quan nên Hãn Thanh để thư lại rồi cáo từ, chàng đi được vào thành để tìm chỗ ăn trưa.
Khu vực phía đông Trực Cô rất đông đúc, nhà cửa của bách tính nằm san sát hai bên đường, chỉ cách nhau một khoảng vườn nhỏ hẹp.
Đường đi cũng chỉ rộng mười mấy bước chân và lũ tiểu đồng lúc nhúc khắp nơi, chạy nhảy đầy đường. Chúng rủ nhau chạy theo xem con ngựa có cái đầu xấu xí, kỳ dị. Một bé trai tám chín tuổi, tóc để trái đào, dạn dĩ hỏi :
- Thúc, thúc ơi! Sao con ngựa này quái dị quá vậy?
Hãn Thanh vui vẻ đáp :
- Cha của nó là ngựa nhưng mẹ của nó lại là lạc đà.
Cậu bé chưng hửng gãi đầu :
- Thế lạc đà là con gì?
Hãn Thanh bối rối giải thích :
- Lạc đà là loài ngựa của vùng sa mạc, có cái đầu giống như con vật này, nhưng cao lớn hơn và trên lưng có bướu!
Thấy chàng vui vẻ, đứa khác xen vào :
- Thế sa mạc là gì hở thúc thúc?
Hãn Thanh cười khổ, biết mình đã sa vào mê hồn trận của những câu hỏi không bao giờ dứt. Bọn tiểu đồng luôn thắc mắc, cũng như chàng ngày xưa vậy :
Chúng bám theo Hãn Thanh một đoạn dài mới chịu buông tha. Hãng Thanh thở phào, đi thêm hai dặm, thấy Tửu kỳ phất phới bên đường, liền ghé vào.
Quán nhỏ này nằm ở một góc giao lộ, vách gỗ, mái ngói trông khá khang trang, sạch sẽ. Hãn Thanh xuống ngựa, bước vào, ngồi xuống cạnh bàn. Quán rất vắng, chỉ có một nữ nhân tuổi tam tuần ngồi ngáp ruồi ở quầy chưởng quỹ :
Thấy có khách, nàng ta vui vẻ hỏi :
- Chẳng hay quí khách dùng món chi?
Nhan sắc của nàng chỉ thuộc hạng trung bình nhưng vẻ hiền lành, thùy mị hiện rõ trên gương mặt trái xoan, trắng trẻo!
Hãn Thanh mỉm cười :
- Tại hạ dùng cơm, món nào cũng được!
Nữ nhân cao giọng gọi
- Ân tướng công!
Một mâm cơm rượu một người ăn!
Thì ra chồng nàng họ Ân, và cũng là đầu bếp Kim Tửu bảo! Hãn Thanh chợt nhớ đến Thương Tâm Kiếm Ân Khiếu Hồ, người bằng hữu thân thiết của mình.
Sau khi nhất Vệ Đăng Thám hạ sát Kim Thạch Tà Tẩu Mộc Tiến Luân, sư bá của Thương Tâm Kiếm, họ Ân đã rời Hầu phủ và không trở lại nữa. Dù Hãn Thanh không đích thân ra tay, Tà Tẩu cũng chết vì chàng! Ân Khiếu Hồ không hận chàng nhưng còn sư phụ của gã!
Hãn Thanh miên man suy nghĩ cho đến lúc nghe tiếng người. Bước chân nặng nhẹ không đều này đối với chàng rất quen thuộc. Hãn Thanh quay lại nhìn, nhận ra gã tiểu nhị đang bưng mâm kia chính là Thương Tâm Kiếm.
Gã cũng nhận ra chàng và vẻ mặt độc nhất kia ánh lên niềm hân hoan pha lẫn chút oán trách.
Hãn Thanh đứng phắt dậy, mừng rỡ gọi :
- Ân huynh!
Thương Tâm Kiếm lạnh lùng bước đến, đặt mâm xuống bàn, ngồi đối diện chàng rồi thở dài :
- Tại hạ mai danh ẩn tích chốn này, không ngờ cũng chẳng tránh được oan gia!
Hãn Thanh cười buồn :
- Tại hạ biết mình đã đưa Ân huynh vào hoàn cảnh khó xử.
Thương Tâm Kiếm nghiêm giọng :
- Sau khi nghe tin Mộc sư bá bị giết, gia sư bắt tại hạ phải tuyệt giao với công tử và gách vác lấy việc báo thù! Ân này vì tình bằng hữu, không thể trở mặt đánh nhau với công tử nên đã bỏ đến Trực Cô lập gia thất, từ giã kiếp giang hồ! Nữ nhân kia chính là chuyết thê, tên gọi La Ngọc Kiều!
Hãn Thanh đứng lên, vòng tay chào nữ nhân :
- Tại hạ là Mộ Dung Hãn Thanh bằng hữu của Ân huynh, xin bái kiến đại tẩu.
Ngọc Kiều ngượng ngùng đáp :
- Tiện thiếp tàn tật, chẳng thể đáp lễ được, mong công tử lượng thứ!
Hãn Thanh chấn dội nhưng không dám để lộ ra, thản nhiên ngồi xuống.
Ân Khiếu Hồ chua chát nói :
- Chiếc thê chỉ có một chân rất xứng đôi với tại hạ!
Gã lại nghiêm giọng :
- Gia sư đã hi sinh tính mạng dồn hết sáu mươi năm tu vi vào cơ thể tại hạ. Nay cơ tạo lá lay, dun dủi cho công tử đến đây, Ân mỗ không còn đường thoái thác di mệnh của tiên sư. Công tử hãy ăn cho no rồi chúng ta sẽ cùng nhau quyết đấu!
Ngọc Kiều nghe câu này, biến sắc, run rẩy nói :
- Tướng công cũng đã hứa bảo bọc thiếp trọn đời, sao giờ lại còn lao vào cảnh chém giết như vậy! Hơn nữa hai người là bằng hữu với nhau mà?
Ân Khiếu Hồ đau đớn đáp :
- Nương tử lượng thứ cho ta, ai ngờ được rằng Hãn Thanh lại dẫn xác đến tận chốn này?
Hãn Thanh nhân lúc gã gục đầu xuống bàn, nháy mắt trấn an La Nương, rồi cất tiếng :
- Tại hạ có lỗi, tất chẳng dám trốn tránh trách nhiệm, xin hãy cùng nhau say một bữa rồi hãy nhắc đến oán thù!
Chàng rót rượu ép Ân Khiếu Hồ cùng đối ẩm. Nhưng Thương Tâm Kiếm chỉ uống ba chén đã thôi!
- Tại hạ bỏ rượu đã lâu, chỉ có thế uống ba chung để tưởng nhớ đến tình bằng hữu. Công tử cứ ăn cho no đi!
Hãn Thanh thở dài, lùa nhanh ba bát cơm. Trực Cô nằm ở đầu phía Bắc của Đại Vân Hà nên gạo ở phương Nam vận chuyển lên rất nhiều, giao thông thuận lợi đã làm thay đổi tập quán của nhiều địa phương. Người phía Bắc Hoàng Hà rất thích ăm cơm thay cho bánh bao truyền thống. Dẫu sao thì lúa gạo ăn với các món xáo món canh vẫn ngon hơn là loại bánh bao lúa mạch.
Chờ Hãn Thanh buông đũa, Thương Tâm Kiếm nói ngay :
- Khu vườn phía sau rất rộng rãi và vắng vẻ, thích hợp với một trận tử đấu.
Gã khập khễnh bước đi, ghé vào phòng lấy kiếm, rồi dẫn Hãn Thanh ra vườn. Ngọc Kiều khóc sướt mướt, chống nạng đi theo, luôn miệng can xin, nhưng không làm lay chuyển được ý chí sắt đá của trượng phu!
La Nương chỉ còn một chân phải lo đi vội nên suýt ngã mấy lần. Hãn Thanh nghe mắt cay cay, cố tìm tìm cách giải quyết ổn thỏa trường hợp khó xử này. Chàng không thể giết họ Ân và cũng chẳng dám để gã giết mình.
Khu vườn phía sau quán rượu chỉ có cỏ và vài bông cúc vàng lác đác. Hai vợ chồng Thương Tâm Kiếm đều tàn tật nên chẳng thể chăm sóc khu vườn được.
Ân Khiếu Hồ nghiêm giọng bảo ái thê :
- Nếu nàng không chịu đứng sang một bên thì Ân mỗ sẽ tự sát ngay!
Ngọc Kiều sợ hãi bật khóc thảm thiết hơn, Hãn Thanh dịu giọng nói
- Đại tẩu cứ yên tâm! Tại hạ thề sẽ bảo toàn sinh mạng cho Ân huynh!
Ngọc Kiều mừng rỡ sụp lạy :
- Mong công tử nương tay cho, tiện phu xin suốt đời tạc dạ.
Chờ La nương lui ra, Hãn Thanh bảo Thương Tâm Kiếm :
- Tại hạ biết Ân huynh hiện giờ có đến gần trăm năm công lực, hơn Thanh này vài bậc. Tại hạ không sợ chết nhưng có việc lớn chưa làm xong, nên đề nghị chỉ đấu đúng trăm chiêu. Nếu không phân thắng bại, xin Ân huynh bỏ qua mối oán thù!
Thương Tâm Kiếm cười nhạt :
- Tại hạ cho rằng chỉ bảy chiêu là đủ!
Hãn Thanh mỉm cười :
- Xin đa tạ! Mời Ân huynh xuất thủ! Tại hạ sẽ cố gắng phụng hầu đủ bảy chiêu!
Thương Tâm Kiếm chính sắc nói :
- Công tử nên cẩn thận, bảy chiêu Phù Sinh kiếm pháp này là tinh huyết một đời của tiên sư. Chẳng tầm thường như pho kiếm mà tại hạ vẫn sử dụng đâu!
Hãn Thanh gật đầu, thủ thế rất kín đáo, Ân Khiếu Hồ có thêm một hoa giáp công lực, tiến rất xa trên đường kiếm đạo. Phong thái gã giờ đây trang nghiêm, bình thản, uy vũ khác thường.
Do hạn định bảy chiêu nên họ Ân sử dụng ngay phép Ngự kiếm, hóa thành đạo kiếm quang bay vút đến. Hãn Thanh nghe kiếm phong rít vi vu và sát khí giàn dụa không gian, biết đối phương xuất thủ tận tình chứ không khách sáo.Chàng vì sinh mạng của chính mình, cũng phải dồn toàn lực mà chống đỡ. Hãn Thanh dùng chiêu “Tuyết Hạ Điểm Tinh”, chỉ thủ chứ không công, chàng rất tự tin, dù công lực kém hơn đối phương đến hơn hai chục năm tu vi!
Bọn môn nhân nhà Mộ Dung đã thay phiên nhau mài nhọn thanh thần kiếm, làm hư hại mười mấy cục đá mài mới hoàn thành công việc. Để bảo vệ tính chất Băng Hàn của kiếm, họ phải đặt đá mài chìm trong nước cho kiếm không bị nóng lên!
Giờ đây! Hàn Băng kiếm đã có mũi và ngắn tương đương với những thanh kiếm thời Xuân Thu nên màu kiếm quang quanh thân Hãn Thanh rất dầy và kín đáo, trông như sao lấp lánh.
Kiếm của Ân Khiếu Hồ chạm vào bức màn ấy, tạo nên những tiếng tinh tang nối nhau, rất vui tai! Hãnh Thanh nghe thanh kiếm chấn động và hổ khẩu tê rần Nhưng chàng đã thắng vì họ Ân không phá nổi chiêu kiếm thủ thân này và Hãn Thanh cũng đã nhận ra đôi chút lộ số của Phù Sinh kiếm pháp. Chiêu vừa rồi có một trăm lẻ tám thế thức, nhắm vào chín phương vị từ mặt đến bụng dưới!
Song phương tung mình rời nhau chuẩn bị cho chiêu kế tiếp. Họ Ân cảnh báo :
- Chiêu thức mỗi lúc một ảo diệu và mãnh liệt hơn, nếu thủ mà không công thì Hầu gia sẽ lâm nguy đấy!
Hãn Thanh mỉm cười :
- Tại hạ xin cảm ơn Ân huynh đã nhắc nhở.
Thương Tâm Kiếm vung kiếm xuất chiêu thứ hai, bề ngoài cũng chỉ là một đạo kiếm quang như trước nhưng thế thức thì khác hẳn.
Họ Ân vừa động thì Hãn Thanh cũng động. Chàng bốc thẳng lên không trung như một chiếc pháp thăng thiên, thoát khỏi trường kiếm của đối phương trong đường tơ kẽ tóc. Thương Tâm Kiếm thấy mục tiêu biến mất, lập tức ra chiêu thứ ba, đuổi theo, bủa kiếm và thân dưới Hãn Thanh Chàng dự liệu trước nên vung ta chưởng vỗ một đạo “Kim Sa Ấn” vào màn kiếm kình. Chưởng ảnh màu vàng nhạt kia hội tụ gần bảy mươi năm chân khí nên không dễ gì bị kiếm kình xé nát, ngược lại, nó còn khiến đường kiếm của họ Ân khựng lại.
Chưởng phong thường mở rộng nhưng “Kim Sa Ấn” lại khác người ở chỗ gom được lực đạo lại trong một phạm vi lớn bằng bàn tay, sức công phá mãnh liệt phi thường.
Bất Biệt cư sĩ từng nói :
- Khi nào con có được trăm năm công lực thì chưởng ảnh chỉ còn nhỏ bằng bàn tay một đứa trẻ mới sinh, lúc ấy, đá xanh cũng phải tan thành bụi.
Thương Tâm Kiếm đang ở dưới Hãn Thanh, bị chưởng kình đầy rơi xuống đất. Gã cười nhạt quát vang :
- Hãy đỡ chiêu thứ tư!
Hãn Thanh vừa hạ thân trên mặt đất đã bị tấn công liền. Kiếm khí lạnh rát không gian, như tiếng xé lụa ghê người. Chàng không còn thời gian né tránh, đành phải chống trả.
Qua ba lần va chạm, Hãn Thanh hiểu rằng Phù Sinh kiếm pháp không thể sánh bằng Nhất Nguyên Tâm Kiếm, liền xuất chiêu “Trùng Dương Cúc Tiến”, vẽ chín bông hoa cúc trắng, mỗi bông chín cánh.
Họ Ân công lực siêu phàm, bủa kiếm kình phá tan được tám mũi tấn công và thọc kiếm vào ngực Hãn Thanh. Nhưng cùng lúc ấy, chính thức kiếm cuối cùng của chiêu “Trùng Dương Cúc Tiến” đã phát huy diệu dụng Tuy Hàn Băng kiếm ngắn hơn trường kiếm của đối phương nhưng trong phút chót, kiếm khí từ mũi Thần binh xạ ra một đoạn dài hơn gang tay. Đây chính là tuyệt học của Bất Biệt cư sĩ, thiên hạ không có người thứ ba!
Hãn Thanh khẽ nghiêng mình để kiếm của họ Ân đâm xuyên nách trái, rồi kẹp chặt lại. Nếu không có công phu Thiên Ma Bách Luyện thì chàng đã chẳng dám mạo hiểm. Và đạo kiếm khí của chàng chỉ đâm thủng chín lỗ trên áo Ân Khiếu Hồ chứ không chạm vào da thịt.
Thương Tâm Kiếm biết chàng tha chết, buồn bã rút kiếm về :
- Ta đã tận lực nhưng không sao thực hiện được di mệnh tiên sư, đành phải lấy cái chết mà tạ tội!
Hãn Thanh cười nhạt :
- Không ngờ các hạ là người thiển cận, cố chấp như vậy! Sao chẳng nghĩ đến hiền thê một mình không nơi nương tựa!
Ngọc Kiều bò đến chân Ân Khiếu Hồ, khóc mà nói :
- Tướng công muốn tự sát thì trước tiên hãy giết mẹ con thiếp! Không có chàng thiếp làm sao nuôi nổi con thơ?
Thương Tâm Kiếm giật bắn mình, lắp bắp hỏi lại :
- Nàng đã có thai rồi sao?
Ngọc Kiều gật đầu :
- Thiếp mới biết nên chưa kịp thưa với tướng công!
Họ Ân vui mừng khôn xiết cúi xuống đỡ hiền thê đứng lên, gượng cười :
- Nếu nàng nói ra sớm thì ta đâu dại gì đấu với Tiểu Hầu Gia làm gì? Ân mỗ vì tông tự mà trái di mệnh, chắc tiên sư cũng không nỡ trách!
Hãn Thanh cười vang :
- Tại hạ xin chúc mừng nhị vị!
Ba người trở vào quán, bày tiệc ăn mừng. Giờ đây Thương Tâm Kiếm mới phóng tâm uống rượu cùng Hãn Thanh cụng chén liên tục. Bỗng gã gượng cười :
- Tại hạ hơn công tử đến mấy chục năm công lực, sao lại thua được nhỉ?
Hãn Thanh cười đáp :
- Tại hạ mới được ăn một loại kỳ trân là Băng Hỏa Quả nên tu vi chẳng kém Ân huynh bao nhiêu. Hơn nữa, các hạ luyện bảy chiêu Phù Sinh kiếm pháp kia chưa được bao lâu nên không thể thắng được Thanh này là phải.
Hai người phá lên cười, thù tạc đến tận nửa đêm. Sáng hôm sau, Hãn Thanh mới rời Trực Cô để đi Đường Sơn. Chàng đã trao cho La Ngọc Kiều tấm ngân phiếu ngàn lượng vàng, gọi là chút quà mừng đứa cháu sắp ra đời!
Biết tính khẳng khái của họ Ân, chàng đã bảo La Nương giấu không cho gã. Ngọc Kiều sắp có con và không muốn con mình phải sống nghèo khổ nên đã nhận số vàng kia. Nàng không ngờ trượng phu mình lại có một bằng hữu chí tình chí nghĩa như vậy!
Mấy tháng trước, Ân Khiếu Hồ xuất hiện ở Trực Cô, đến quán của nàng ăn uống. Hai người cùng cảnh ngộ tàn phế nên phát sinh tình cảm rất nhanh và họ Ân đã chịu gác kiếm, ở lại với Ngọc Kiều!
Sanh ý ế ẩm nên La Nương rất lo lắng khi phát hiện mình có thai. Nào ngờ Hãn Thanh đến và biến nàng trở thành một tiểu phú đất Trực Cô.
Khi Hãn Thanh đi khỏi, Ngọc Kiều liền thử lòng phu tướng. Nàng nũng nịu bảo họ Ân :
- Tướng công! Chàng có bằng hữu là Hầu tước giàu sang tột bậc, sao không vì thiếp và con thơ mà ngỏ lời nhờ Mộ Dung công tử giúp đỡ?
Thương Tâm Kiếm bối rối gãi đầu :
- Ừ nhỉ! Nhưng chẳng thà gã tự hiểu ra chứ ta đâu có mặt mũi nào mà mở miệng hỏi?
Gã suy nghĩ một lúc, tát yêu hiền thê :
- Thì ra Hãn Thanh đã giấu ta mà đưa vàng cho nàng phải không? Tiểu Hầu Gia là người nặng tình nặng nghĩa, tất không thể nói lời chúc mừng suông được!
Ngọc Kiều thẹn thùng thú nhận :
- Chàng đoán không sai, Mộ Dung công tử đã tặng con chúng ta ngàn lượng hoàng kim!
Ân Khiếu Hồ lặng người trước tấm lòng mở của người bạn vong niên!
Trưa hôm sau, Hãn Thanh vào trấn Đường Sơn. Thấy một đám ăn mày ngồi dưới gốc cây cạnh đường, chàng dừng ngựa bước xuống hỏi thăm. Nhận ra trúc phù, bọn hóa tử cúi đầu thi lễ! Hãn Thanh hỏi về tung tích Tiểu Thuần thì họ đáp rằng :
- Bẩm công tử, hôm kia nữ nhân áo trắng xuất hiện ở bãi tắm để tìm kiếm ai đó, khiến mọi người bị một phen khiếp vía. Cuối cùng có hai đạo sĩ áo trắng chạy đến. Tay phải họ sử dụng trường kiếm, còn tay trái cầm chiếc khánh vàng lớn độ hai gang tay. Họ vây đánh nữ lang, bắt được nàng ta. Đệ tử bám theo thì thấy họ đưa nữ lang kia về một cánh rừng ở vùng đồi Quan Hải Khân, cách thành Đường Sơn mười mấy dặm về phía Đông bắc! Bìa rừng có người canh gác nên đệ tử không dám vào theo!
Hãn Thanh đăm chiêu một lúc rồi hỏi lại :
- Phần đà chủ có biết khu rừng ấy thuộc tài sản của ai không?
- Bẩm công tử! Đệ tử đã điều tra và biết được đấy là đất phong của Ngũ hoàng tử Chu Quế! Gã không được chọn làm Đông cung thái tử kế vị nên bất mãn bỏ Bắc Kinh về ẩn giặt ở Đường Sơn này! Nghe nói sơn trang của Ngũ hoàng tử này rất tráng lệ và được canh phòng nghiêm mật. Chỉ có nàng danh kỹ Quách Mạn Mạn ở Thủy Tiên các là thường ra vào chốn ấy!
Hãn Thanh gật gù :
- Đêm nay, phiền các hạ đưa ta đến bìa khu rừng!
Chàng thưởng cho đám hóa tử Đường Sơn ngàn lượng bạc, khiến họ hoan hỉ vô cùng!
Hãn Thanh tìm khách điếm nghỉ ngơi. Giữa canh hai, chàng nghe tiếng huýt sáo của Phân đà chủ Cái bang Đường Sơn liền nhảy qua cửa sổ, vượt tường ra ngoài.
Chàng nóng ruột nên nắm tay lão kéo đi như gió thoáng, chỉ vài khắc đã đến rừng của Ngũ hoàng tử.
Hãn Thanh bảo lão trở lại thành còn mình xâm nhập vào.
Có một con đường rộng hai mươi bước chân dẫn thẳng vào trong. Hãn Thanh Không lén lút lần mò mà dồn pho khinh công “Lưu Thủy Hành Vân” lướt đi như chiếc bóng mờ.
Trời cuối tháng chẳng lấy gì làm sáng sủa, lại là đường rừng nên càng thêm tăm tối. Dẫu đối phương có đặt người canh gác hai bên đường cũng chỉ tưởng là cánh dơi đêm lướt qua. Tuy nhiên Hãn Thanh vẫn cẩn trọng vận công nhìn xuyên bóng tối để kịp thời phát hiện chướng ngại vật. Nửa khắc sau chàng đã đến cuối đường và nhìn thấy một cánh cổng rào thưa, nhưng không phải tre trúc mà gốm bằng thanh sắt tròn to hơn ngón chân cái.
Hai bên cửa là bức tường vây kiên cố cao đến hai trượng. Hãn Thanh áp sát cột cổng nhìn vào trong phát hiện toán canh ở mé hữu. Chàng biết không thể vào bằng lối cổng chính liền đi dọc theo chân tường mới trổ công phu Bách Hổ Công mà bò lên.
Mặt tường được tô nhẵn thín và quét vôi cẩn thận. Nhưng không làm khó được Hãn Thanh. Chàng thoăn thoắt uốn mình bò dần đến đỉnh tường.
Hãn Thanh nhìn vào trong không thấy nhà cửa đâu mà chỉ toàn vườn cây mênh mông, mịt mù sương trắng và thấp thoáng khắp nơi là những ánh đèn lồng mờ tỏ. Chàng cau mày suy nghĩ, đoán rằng vườn cây được bố trí một trận pháp kỳ môn. Hãn Thanh không thông thạo nên chẳng dám mạo hiểm.
Chàng đứng hẳn lên mặt tường rồi phi thân chạy như bay, vòng về phía sau, hy vọng tìm ra chỗ sơ hở mà đột nhập.
Chân lướt nhanh nhưng đôi mắt Hãn Thanh luôn dõi vào phía trong vườn cây. Mãi khi đến điểm tiếp giáp giữa đường Nam và vách đá hướng Tây, chàng mới thấy một con đường nhỏ chạy dọc giữa chân vách và vườn cây.
Hãn Thanh không còn lối, đành nhảy xuống theo đường ấy mà đi, chàng khấp khởi mừng thầm vì chẳng có sương mù, nghĩa là phía này không bày trận pháp. Một viên đá nhỏ từ vách núi rơi xuống và vài tiếng ho nhẹ tố cáo rằng trên ấy có trạm canh.
Hãnh Thanh bám sát chân vách đi được vài chục trượng thì phát hiện một đường rẽ ngược lên hướng Đông. Từ đây, chàng có thể nhìn thấy ánh đèn leo lét của những dãy nhà gỗ.
Dọc đoạn đường ba mươi trượng này không hề có mai phục. Như vậy khu nhà gỗ kia là nơi ăn ở của bọn gia nhân làm vườn!
Trời đã sắp vào Đông, tuyết chưa rơi nhưng khí hậu rất lạnh. Tiếng côn trùng trong rừng rỉ rả, thê thiết khiến cảnh vật buồn bã vô cùng. Có lẽ vì lý do đó mà bọn người ở khu nhà gỗ này đều lên giường cả, hoặc bày chiếu rượu giải sầu.
Nhờ thế, Hãn Thanh mau chóng vượt hết khu vực này, tiến tới một bức tường cao vút, ngăn cách những cung ngơi tráng lệ phía trước. Hai bên thông nhau bằng một cánh cổng sắt thưa được khóa chặt.
Hãn Thanh rút Hàn Băng kiếm dồn chân khí vào và ấn mạnh. Thanh kiếm sắc bén vô song đã lún dần vào dây xích sắt và cắt đứt khoen. Hãn Thanh lách qua, đóng cửa lại cẩn thận như cũ. Chàng gở bỏ khoen sắt bị cắt. Sáng mai, gã nào đó sẽ tưởng mình quên khóa cửa, vì chẳng ai đếm số khoen sắt bao giờ! Dây thiết luyện này rất mới nên khoen đầu dây chưa trầy xước bao nhiêu, trông cũng giống như khoen thứ hai vậy!
Hãn Thanh lo ngại thế lực của Ngũ hoàng tử và cũng không muốn đụng chạm với triều đình nên quyết định cứu Tiểu Thuần một cách êm thắm.
Nhà cửa vùng trung tâm sơn trang được bố trí rải rác trong vườn hoa, gồm hàng trăm căn nhà lớn nhỏ, lực lượng tuần tra luôn túc trực không thể phát hiện một đại cao thủ về khinh công như Hãn Thanh. Chàng mừng thầm vì không có con chó nào! Nghe nói Ngũ hoàng tử tuổi Tuất nên không thích nuôi chó! Lão Hầu Gia từng kể rằng :
Khi Chu Quế ra đời, các tiệm bán thịt chó trên cả nước đều phải đóng cửa ba ngày!
Công trình đồ sộ, huy hoàng nhất là tòa cung điện nằm chính giữa :
mái ngói lưu ly cong vút và những hàng cột đắp nổi hình long phụng được sơn thếp vàng rực rỡ.
Có một đoạn mái hiên tăm tối vì đèn lồng hết dầu hay bị gió Đông thổi tắt. Và qua khung cửa sổ tròn vẫn thấy được ánh nến sáng trưng bên trong.
Hãn Thanh áp sát vách tường mà nghe ngóng, quan sát. Quanh chiếc bàn đá cẩm thạch là năm người, ba lạ hai quen. Người lạ gồm một chàng trai tuổi hai mươi mấy, y phục diêm dúa, hoa lệ, búi tóc cài kim khôi Chắc là Ngũ hoàng tử Chu Quế. Hai người kia là hai lão đạo áo trắng giống sự miêu tả của Phân đà Cái bang. Tuổi họ độ tám mươi, râu tóc bạc phơ trông rất tiên phong đạo cốt. Hãn Thanh đã từng nghe Bất Biệt cư sĩ kể về Kim Khánh song tiên ở Quân Linh sơn. Cao Hán Ngọc còn nói rằng âm công của hai chiếc khánh vàng kia rất lợi hại.
Còn hai ngươi quen cũ chính là Nam Thiên tổng giám Tư Không Nhạ và một người họ Mộ Dung. Gã tên là Mộ Dung Cầu, em thúc bá với Hãn Thanh.
Trong trận hỏa thiêu Hầu phủ, mọi người đồn rằng gã đã hi sinh. Hãn Thanh nghe lòng chua xót vì không ngờ trong gia tộc lại có người phản bội!
Lúc này Tư Không Nhạ cất tiếng :
- Bẩm Điện hạ! Gã Mộ Dung Cầu này có dáng vóc tương tự tiểu tử Hãn Thanh và thuộc làu tính nết thói quen của Tiểu Hầu Gia! Lão phu tin chắc rằng sẽ lừa được Bạch Nhật Quỷ Hồn Trịnh Tiểu Thuần.
Giờ đây Song Tiên đã khôi phục được tám phần thần trí cho Tiểu Thuần, chúng ta sẽ hóa trang Mộ Dung Cầu thành Hãn Thanh. Gã sẽ đưa nàng ta về Bắc Kinh và dụ nàng vào cung hành thích. Với khinh công và pho Nhất Âm thần chỉ của Tiểu Thuần. Minh Cảnh Tông và Thái tử chẳng thể thoát chết được.
Khi điện hạ lên ngôi Cữu Ngũ, lập tức cho ba quân vây chặt Hầu phủ, bắt giải về kinh, tiêu lục toàn gia. Lão phu xin nhắc lại rằng tài sản của Mộ Dung Cẩn còn nhiều hơn cả Tứ Hải tiền trang!
Ngũ hoàng tử hài lòng gật đầu lia lịa. Mộ Dung Cầu sợ hãi nói :
- Lão gia tính toán như vậy thì tại hạ bị vạ lây chứ đâu được lợi lộc gì?
Tư Không Nhạ cười nói :
- Gia tài của họ Mộ Dung còn hàng vạn mẫu đất ở hai bờ Lục Thủy. Lúc ấy, điện hạ sẽ phong hầu cho ngươi để cai quản, như vậy chưa đủ hay sao?
Chu Quế hứa ngay :
- Đúng thế! Ngươi sẽ trở thành Bình Phiên Hầu đời thứ sáu thay cho gã Hãn Thanh! Ta còn thưởng thêm cho ngươi năm vạn lượng vàng nữa!
Mộ Dung Cầu hớn hở vái dài :
- Thế thì thảo dân xin tận lực!
Hãn Thanh nghe được âm mưu thâm độc này, lòng sôi lửa giận chỉ chực xông vào giết sạch bọn xấu xa. Nhưng chàng cố trấn tĩnh lại vì tự lượng không đủ sức. Hơn nữa, nếu vô cớ đụng đến Ngũ hoàng tử sẽ gây họa cho cả tông môn!
Kim Khánh Đại Tiên Cố Tĩnh là lão già có cái miệng khá rộng. Lão e hèm rồi lên tiếng :
- Sáng mai bần đạo sẽ thi triển Kim Khánh đại pháp để cứu chữa cho Tiểu Thuần, có lẽ phải mất một ngày mới xong. Trong lúc ấy, nhị vị sẽ dịch dung cho Mộ Dung thí chủ. Vậy là khoảng bốn ngày nữa chúng ta sẽ trở về Bắc Kinh được rồi!
Ngũ hoàng tử đứng lên tỏ ý tiễn khách. Bốn người kia vội vái chào, rời sảnh đi về phòng mình. Còn lại mình Chu Quế vẫn ngồi bên giá nến, trầm ngâm suy nghĩ. Chợt gã lẩm bẩm một mình :
- Chẳng lẽ ta lại bỏ qua một nữ nhân tuyệt thế như vậy? Sau này làm gì còn có cơ hội?
Gã mỉm cười dâm đãng,đứng lên đi về phía sau. Hãn Thanh biết gã nổi tà tâm, định cưỡng bức Tiểu Thuần, liền lao qua ô cửa sổ bám theo ngay.
Trước đây, Tiểu Thuần thường dùng pho khinh công “Lưu Thủy Hành Vân” theo Hãn Thanh như hình với bóng, mà chàng không thể phát hiện nổi, thì giờ đây Chu Quế làm sao biết được?
Nơi giam giữ Tiểu Thuần cũng ở trong tòa cung điện này, chỉ cách khách sảnh chừng vài dãy phòng. Đến nơi Ngũ hoàng tử tát yêu vào má hai ả nữ tỳ đang canh chừng trước cửa rồi đuổi chúng đi!
Chu Quế rút chìa khóa mở cửa bước vào, không ngờ rằng sau lưng mình có người. Gã xoay lại đóng cửa thì Hãn Thanh cũng vẫn là chiếc bóng ở phía sau. Chàng và gã như dính liền một khối và cách nhau một khoảng cách không xa. Nếu gã có mắt sau lưng thì mới nhìn thấy được!
Chu Quế thắp thêm vài ngọn nến trên giá rồi cầm đến cuối phòng. Trên chiếc giường chạm trổ cầu kỳ, trải nệm trắng muốt kia chính là Trịnh Tiểu Thuần!
Nàng vẫn xinh đẹp như ngày nào, dù gương mặt gầy đi, và trên góc trán có một đốm sẹo bằng móng tay. Hãn Thanh nghe mắt cay xè, cố dằn cảm xúc suy tính kế sách hành động. Chàng không thể để gã làm nhục ái thê, nhưng cũng không thể giết gã! Cuối cùng Hãn Thanh cũng tìm ra phương sách, dùng thủ pháp kinh ngoại kỳ huyệt điểm nhanh vào hai huyệt — Minh, An Ninh sau tai phải của Chu Quế. Họ Chu mê man gục xuống, được Hãn Thanh đỡ lấy và điểm thêm các huyệt Thái Dương, Ngự Yên, Tứ Thần Thông.
Năm huyệt này đều ở trên đầu và là huyệt ngoài kinh. Khi bị điểm, nạn nhân sẽ biến thành si ngốc cười nói suốt ngày. Xong xuôi, Hãn Thanh đặt Tiểu Thuần trên lưng mình, xé khăn trải giường cột lại rồi rời khỏi tòa cung điện.
Giữa canh tư, Hãn Thanh về đến khách điếm, chàng giấu Tiểu Thuần trên chạng ba cây ngoài tường rồi vào phòng thu xếp hành lý, lấy ngựa. Khi bình minh ló dạng thì Hãn Thanh đã rời xa Đường Sơn năm chục dặm!

Hồi trước Hồi sau