sendo

Nam quốc sơn hà - Hồi 50 (hết)

Nam quốc sơn hà - Hồi 50 (hết)

Nghìn năm Yên
Dũng khí hạo nhiên

Ngày đăng: 23-07-2014
Tổng cộng 50 hồi
Đánh giá 9.7/10 với 163674 lượt xem

ton

Tại chiến lũy Yên-dũng, Đại-Việt
Ngày 19 tháng giêng, mùa Xuân, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông nước Đại-Việt; bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).
Sau cuộc đổ bộ ngày 19 tháng giêng, công chúa Động-Thiên, phò mã Hoàng Kiện, Qui-đức đại tướng quân Trần Di với phu nhân Phương-Lý tuẫn quốc. Toàn bộ hiệu Vũ-thắng hy sinh. Hai cặp vợ chồng Hùng Trí, Âu Lam; Hùng Tín, Âu Hồng tuân chỉ công chúa Động-Thiên phá vòng vây chạy về chiến lũy Yên-dũng báo hung tin cho Hoài-hóa thượng tướng quân Lý Đoan với phu nhân là Liên-hương Nhu-mẫn quận chúa Trần Ngọc-Liên vào buổi trưa ngày hôm đó.
Hầu kinh hãi, bàn với quận chúa và Lý Tứ, Mai-Tứ:
– Theo tin của tế tác gửi về, khi Quách Quỳ nghị kế, thì chỉ mặt Như-nguyệt là thực, còn hai mặt Phú-lương, Vạn-xuân là hư. Không ngờ giờ phút cuối cùng y đổi kế, lại nữa ta bị bất ngờ vì bọn thú binh hàng giặc, thành ra mặt Phú-lương ta bị thiệt hại nặng. Bây giờ Yên Đạt, Khúc Chẩn, đang đem đại binh vượt sông, chỉ nội ngày mai chúng sẽ đánh chiến lũy này. Vậy sư huynh, sư tỷ với phu nhân tính sao?
Lý Tứ bàn:
– Yên Đạt, Khúc Chẩn đã chiếm được chiến lũy Phú-lương, nhưng bị mất ba tướng Lôi Tự-Văn, Tống Đạo, Lữ Chân với hai hàng tướng Nùng Thịnh-Đức, Sầm Khánh-Tân. Tuy vậy tin mới nhất của Khu-mật viện cho biết bọn Trường-bạch song hùng với hơn trăm võ sĩ phái này hiện ở trong quân Tống. Về quân, vừa rồi chúng bị tổn thất năm vạn, nhưng vẫn còn ba vạn quân triều, năm vạn bảo binh, với sáu mươi chỉ huy tân-đằng-hải, cộng lại mười một vạn người. Chúng thừa sức tràn ngập chiến lũy này. Theo thuộc hạ nghĩ, mình phải gửi tấu chương về triều xin viện binh.
Hầu vội viết biểu gửi đi ngay.
Hơn giờ sau, chim ưng mang lệnh của Khu-mật viện, do nguyên soái Lý Thường-Kiệt ký báo cho biết:
« ... Đã khẩn cho hai hiệu binh Thiên-trường, Trường-yên lên đường. Hãy cố cầm cự. Sẽ có kế phá giặc ».
Được thư, Lý Đoan họp chư tướng loan báo. Mai-Tứ đề nghị:
– Viện binh có lên đường ngay, thì ít ra cũng phải ba ngày nữa mới tới. Vậy ta phải cố thủ trong chiến lũy hơn là giao chiến. Hiện Yên Đạt, Khúc Chẩn đang lo chôn cất, băng bó cho thương binh. Bây giờ trời đã về chiều chắc y chưa thể đánh ta ngay hôm nay (19-1). Lợi dụng chúng không phòng bị, đêm nay ta dùng Lôi-tiễn, thú binh đánh y một trận phủ đầu. Có như vậy, trong hai ngày y chưa thể đánh ta được. Trong thời gian đó, thì viện binh đã tới rồi.
– Được ta cứ đợi.
Hầu quyết định: Nếu như tối y không đánh ta, thì đêm nay ta đánh y.
Hầu nói với phu nhân:
– Yên Đạt nghĩ rằng phía sau y, ta không còn quân. Y đem hết binh hùng tướng mạnh vượt sông. Giả như ta có một đạo binh nhỏ đánh vào hậu cứ y, thì có thể đốt hết lương thảo của y. Như vậy y phải ngừng tiến quân, để chiếm lại hậu cứ.
Phu nhân mừng vô hạn:
– Ta viết thư cho vua bà Thiên-Thành, để người làm việc đó. Chỉ cần nghìn cảm tử quân với một đội thú binh là đủ rồi.
Hầu ngồi viết thư rồi sai chim ưng mang đi liền.
Trời chập choạng tối, thì chim ưng mang thư của công chúa Thiên-Thành với phò mã Thân Cảnh-Long tới:
« ... Ta được lệnh của Khu-mật viện, đem một đại lực lượng đánh chiếm hậu cứ Yên Đạt cùng một lúc với thư cầu cứu của đệ. Yên tâm, ta sẽ cho quân lên đường vào sáng mai (20-1); sẽ đánh cướp hậu cứ chúng vào chiều mai, hay sáng ngày kia (21-1) ».
Đến đó, tế tác vào báo:
– Thưa quân hầu, Tống cũng có Ưng-binh tuần thám, thành ra tế tác ta không biết rõ tình hình ra sao?
Lý Đoan nhảy lên than:
– Nguy thực, cũng may ta chưa xuất quân cướp trại chúng, bằng không Ưng-binh, Ngao-binh của chúng báo động thì nguy thay!
Hầu với phu nhân tập hợp tướng sĩ giảng giải cho họ biết rõ tình hình, rồi kết luận:
– Dù biết sáng mai, hay có thể vài ngày nữa Tống mới đánh ta. Nhưng ta vẫn phải canh phòng cho thực cẩn thận.
Hầu ra lệnh:
– Chiến lũy của ta có ba mặt Tây, Bắc và Đông tiếp giáp với ruộng lúa. Địch sẽ tấn công bằng ba mặt này. Cả ba mặt ta đều có lũy tre dầy tới hai trượng bao bọc, chúng không thể phá mà vào được. Vì vậy chúng sẽ cố đánh chiếm ba cổng lớn. Ta cần trấn ba cửa này cho chắc là được.
Hầu đưa mắt nhìn Hùng Tín, Âu Hồng:
– Sư huynh, sư tỷ trấn mặt Tây. Mặt này đồng sâu, bùn nhiều, hào lại sâu, rộng. Chắc chúng sẽ cố tấn công bằng con đường vào lũy mà thôi.
Hầu nói với Hùng Trí, Âu Lam:
– Mặt Đông có con đường rộng chạy vào chiến lũy, ắt chúng sẽ cố đánh mặt này. Sư huynh, sư tỷ phải lợi dụng Lôi-tiễn, nỏ thần mà cản chúng.
Hầu nói với phu nhân:
– Mặt Bắc thông với bên ngoài bằng cả bãi đất rộng, chắc chắn chúng sẽ dồn hết nỗ lực tấn công. Vậy em với sư tỷ Mai-Tứ trấn tại đây. Còn anh với sư huynh Lý Tứ trấn tại trung ương, tiếp viện các nơi.
Hầu ghé miệng vào tai vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín:
– Nghe nói sư bà Mộc-tồn học được thuật bắn liên châu của Cao Cảnh-hầu thời Âu-lạc, người dốc túi truyền cho Thần-vũ thập anh. Có đúng thế không?
Âu Hồng lắc đầu:
– Sư phụ có truyền cho mười chúng tôi thực, nhưng ngộ tính của tám chúng tôi quá tối tăm, nên chỉ bắn mỗi lần được hai mũi tên. Duy sư huynh Hùng Trí, Hùng Tín là học được trọn vẹn, có thể bắn một lúc từ hai tới tám mũi vào những vị trí khác nhau.
– Hay lắm.
Hầu khen: Vậy lát nữa hai sư huynh sẽ làm như thế, như thế. Biết đâu chẳng giết được Yên Đạt, Khúc Chẩn.
Hùng Trí cực kỳ cao hứng:
– Tuân lệnh tướng quân.
Đêm đó hoàn toàn yên tĩnh.
Sang ngày 20 tháng giêng cho đến giờ Thìn vẫn không thấy Tống tấn công. Tin tế tác báo cho hầu biết:
« ...Yên Đạt, Khúc-Chẩn cho binh sĩ đẵn tre, bện cỏ làm lá chắn, loại lá chắn lớn đến tám người khiêng. Chúng dùng lá chắn kết thành xe, rồi cho trâu đi phía sau lá chắn đẩy xe. Quân thiết đột nấp sau xe mà tiến lên... »
Hầu nhảy phắt lên:
– Cái thằng Yên Đạt này khôn thực. Chúng biết rằng ta có nỏ thần lợi hại, chúng làm lá chắn để che phủ cho quân tiến lên. Như vậy ta chỉ có thể đánh cận chiến với chúng mà thôi.
Chợt nghĩ ra một kế, hầu nói với quận chúa:
– Từ đây về Siêu-loại không xa. Em mau lấy ngựa về làng bảo lý trưởng rằng có lệnh của anh, tập họp tất cả nam nữ mục đồng (trẻ chăn trâu) tuổi từ mười hai trở lên, tuyển lấy ba chục người, rồi đem đến đây. Nhớ dặn chúng mang theo ống sáo, tù và.
Quận chúa Trần Ngọc-Liên không biết chồng tuyển mục đồng làm gì, nhưng thấy dáng điệu vội vã khẩn cấp của hầu, bà không dám hỏi lại. Quận chúa tuyển năm nữ binh theo hầu, rồi lấy ngựa lên đường.
Đến giờ Mùi, hầu đang ngồi bàn luận với chư tướng, thì có tiếng trống ngũ liên báo động vọng vào. Hầu cùng chư tướng vội ra vị trí chiến đấu. Hướng mắt quan sát ba mặt Tây, Bắc, Đông, bất giác hầu nổi da gà lên: Quân Tống dàn trận thành ba lớp đang từ từ tiến sau một bức thành kết bằng lá chắn để trên các xe do trâu đẩy.
Lý Đoan chỉ vào hai người đứng trên mình trâu phía sau đội hình quân Tống, nói với Lý Tứ:
– Sư huynh nhìn xem kìa. Tên cỡi trâu bên trái là Yên Đạt, tên cỡi trâu bên phải là Khúc Chẩn. Hôm nay chúng ta phải một mất một còn với chúng đấy.
Lý Tứ hỏi Lý Đoan:
– Tướng quân! Tại sao quân của Yên Đạt tới mười một vạn, mà thuộc hạ thấy dường như chúng chỉ dùng chưa tới ba vạn tấn công ta?
– Sư huynh nên biết Yên Đạt là một tướng cầm quân kinh nghiệm. Sau trận Phú-lương, chỉ một hiệu Thiên-tử binh của ta, mà y phải hy sinh tới năm vạn người. Vì vậy lần này y tính toán cẩn thận. Với ba lớp quân thế kia, nếu đánh thực sự thì chỉ phá được hai lớp rào là đã chết hết rồi. Đây chắc là y thử hệ thống phóng thủ của ta đấy.
Hầu ra lệnh:
– Tuyệt đối không dùng Lôi-tiễn bắn vào đội hình lá chắn. Đợi chúng tới gần, rời bỏ lá chắn sẽ có biện pháp đánh chúng. Cần kiên nhẫn, không nên xuất hiện.
Quân Tống vẫn từ từ tiến theo sau đội hình xe trâu đẩy lá chắn. Trong chiến lũy im lặng, không một tiếng người, một tiếng thú. Trên trời đoàn Thần-ưng bay lượn thực đẹp, trong tư thế chờ đợi đánh xuống.
Bên ngoài, Yên Đạt nói với Khúc Chẩn:
– Vợ chồng thằng Lý Đoan chết hết rồi hay sao mà trong chiến lũy không một tiếng động, không một bóng người. Cả cờ xí cũng không?
Khúc Chẩn tỏ vẻ ngần ngại:
– Tôi nghe nói, trong Giao-chỉ ngũ kiêu, thì tên Đinh Hoàng-Nghi lắm mưu nhiều mẹo nhất. Tên Lý Đoan dùng binh hay nhất. Ta phải cẩn thận mới được.
– Tôi không sợ nó. Bởi nó chỉ có một hiệu binh, trong khi ta còn tới mười một vạn người ngựa.
Quân Tống vẫn tiến từ từ. Còn năm mươi trượng, rồi ba mươi, rồi hai mươi trượng. Trong chiến lũy vẫn im lìm. Từ đâu đó có tiếng kèn âm ỷ như tiếng ma quỷ gọi hồn vọng lại.
Khúc Chẩn càng lo lắng:
– Chẳng lẽ Lý Đoan dùng kế không thành? Y chưa phản ứng gì cả!
Trong chiến lũy vẫn im lìm.
Khúc Chẩn đánh ba tiếng lệnh. Quân Tống cùng hô lên một tiếng rồi tung mình ra khỏi lá chắn nhào xuống hào, xung phong. Nhưng hào sâu, lại đầy chông, lớp đầu tiên xuống hào dẵm phải chông kêu thét lên; lớp thứ hai cũng đã rời lá chắn, xung phong; lớp thứ ba vừa rời lá chắn. Cả ba đội hình quân Tống đồng reo hò tiến lên.
Trong chiến lũy vẫn im lìm.
Đến lượt Yên Đạt phập phồng lo sợ:
– Hay chúng bỏ chạy hết rồi? Không lẽ. Bọn Thiên-tử binh chỉ biết chết mà không biết lui kia mà?
Lớp đầu của quân Tống dẵm phải chông đã được lớp thứ ba lôi lên khỏi hào. Tiếng rên, tiếng la, tiếng gọi nhau ơi ới ngoài chiến lũy. Mà... trong chiến lũy vẫn im lìm.
Khúc Chẩn chửi tục:
– Tổ bà nó! Giả như trong chiến lũy không có quân Việt, mà quân mình bị thương đến mấy nghìn thế kia thì tức đến chết đi được!
Hoài-hóa thượng tướng quân Lý Đoan đứng trên một đài cao, hầu mở to mắt quan sát rất kỹ tình hình quân Tống, trên tay hầu cầm năm lá cờ năm mầu để ra lệnh. Cạnh hầu là đô thống Lý Tứ ứng trực trợ giúp. Vì chưa quen chiến trận, Lý Tứ thấy quân Tống lớp thì bị chông đang được đồng đội cấp cứu, lớp thì đang vượt hào, lớp thì bắt đầu chặt rào; thế mà Lý Đoan vẫn chưa phát lệnh phản công, khiến ông chịu không được, miệng nghiến răng ken két, tay bật lên như muốn phát chiêu. Nhưng vì giữa tình thế cực kỳ căng thẳng này, Lý Tứ không dám lên tiếng.
Lý Đoan chỉ cho Lý Tứ:
– Sư huynh xem kìa, chúng dùng toàn bảo binh với tân đằng hải. Chắc đây chỉ là cuộc tấn công thám thính. Đã vậy ta cũng không cần tiếp chiến. Ta để cho chông với đội Thần-long (rắn lục) làm thịt đám binh này là được rồi.
Hầu gọi quân chấp pháp tới ra lệnh:
– Truyền cho các đội Thần-long dàn rắn chuẩn bị cho rắn nằm sẵn trên các cành tre, cùng bờ ngoài lũy tre chờ lệnh.
Quân chấp pháp đi liền.
Ba lớp quân Tống lội lõm bõm hơn hai khắc (30 phút) mới đem hết thương binh ra ngoài. Số còn lại đã vượt qua hào, đang dùng đao chặt lũy tre.
Lý Đoan cầm cờ đen phất lên ba lần. Lập tức nỏ binh châm lửa, bắn lên trời ba trái Lôi-tiễn. Lôi-tiễn xé không gian vọt tới mây rồi phát nổ. Ba trái cầu lửa tỏa ra như ba cái nấm khổng lồ. Đó là lệnh cho Thần-long phản công. Nhưng cờ xí, chiến lũy vẫn chưa thấy dựng lên.
Quân Tống đang chặt lũy, thì từ trên những cành tre, trên những ngọn tre, trong những bụi tre, không biết bao nhiêu rắn rơi xuống đầu, cổ, mặt, chân tay. Những con rắn lục nhỏ như cái đũa rất nhanh nhẹn, sau khi đợp người này, lại phóng sang đợp người khác. Quân Tống vội buông đao bắt rắn, phủi rắn khỏi người, nhưng không ai bắt được con nào cả.
Yên Đạt, Khúc Chẩn thấy quân mình đang phá chiến lũy thình lình bỏ đao nhảy nhót, la hét, phủi phủi, đập đập... thì kinh ngạc không biết cái gì đã xẩy ra. Hai người thúc trâu tiến vào sát bờ hào hỏi:
– Cái gì vậy?
– Rắn! Quân sĩ bị rắn cắn,
Đâu đó trong chiến lũy có tiếng loa gọi ra:
– Cùng binh tướng Tống. Các người vừa bị những con rắn độc cắn. Nếu không có thuốc giải của ta thì trong hai giờ sẽ chết. Vậy các người mau bỏ vũ khí lùi lại, không được dùng sức. Nếu các người dùng sức, nọc độc sẽ chạy vào tim, chỉ trong hai khắc là chết. Nếu các người tuân lời ta, nội trong một giờ ta sẽ sai y sĩ đem thuốc giải cho các người. Ta, Hoài-hoá thượng tướng quân, Trực-tâm hầu Lý Đoan không bao giờ nói dối các người.
Trước đây, quân Tống đã chứng kiến tận mắt mấy nghìn đồng đội vì truy kích quân Việt trong lần quân Việt đột kích ở Bắc cương, rồi bị rắn cắn, lúc trở về trại chết rất thê thảm. Nghe tiếng loa gọi, như tìm được đường sống, chúng hò nhau quẳng vũ khí lùi lại.
Yên Đạt quát lên:
– Ai lùi một bước thì chém!
Y hô đội cận vệ chém mấy người để ngăn cản. Không ngờ đám binh tướng này hóa liều, chúng hò nhau đánh lại. Thoáng một cái đội cận vệ bị giết hết.
Trước sau, trong chiến lũy vẫn không thấy một bóng người.
Yên Đạt chưa biết giải quyết sao, thì bỗng con trâu của y hí lên inh ỏi rồi ngã lăn ra. Y tung người lên cao, đáp xuống lưng trâu của một cận vệ. Quay đầu nhìn lại: Bất giác y rùng mình, vì con trâu bị bốn con trăn quấn bốn chân. Giận cành hông, y rút kiếm nhảy xuống chém trăn; nhưng kiếm vừa vung lên, thì cả bốn con trăn đã vọt tới tấn công y. Kinh hãi, y nhảy lùi lại ba bước, rồi đáp lên lưng con trâu khác của viên cận vệ.
Thình lình, véo, véo, véo, ba mũi tên từ trong chiến lũy hướng người y. Kình lực tên quá mạnh, y không dám dùng tay bắt, mà rút kiếm gạt. Choang, choang, choang, ba mũi tên bị đổi chiều. Nghe tiếng kêu, Yên Đạt mới biết tên bằng thép. Y vừa thu kiếm về thì lại sáu mũi nữa hướng người y. Kinh hoảng, y tung mình lên cao, chín mũi khác lại bay tới. Đang chới với trên không, bị tới chín mũi tên một lúc; y hét lên be be cầm chắc cái chết trong tay, thì một người quần áo đen vọt tới như con đại bàng. Người này phất tay một cái làm thân Yên Đạt đổi chiều bay ra xa đến hai trượng. Y lộn một vòng rồi đáp xuống. Các mũi tên không trúng Yên Đạt, dư lực bay ra xa tới hai mươi trượng mới rơi xuống ruộng.
Thoát chết, Yên Đạt nhìn kẻ cứu mình xem là ai? Thì ra Trường-bạch nhất hùng. Y đưa mắt nhìn sang bên cạnh, Khúc Chẩn cũng gặp nguy như y và cũng được Trường-bạch nhị hùng cứu thoát.
Yên Đạt ra lệnh cho binh tướng lùi ra khỏi tầm tên. Y cung tay nói với Trường-bạch song hùng:
– Đa tạ nhị vị tiên sinh đã cứu mạng.
Trường-bạch nhị hùng cười nhạt:
– Từ khi anh em tại hạ ứng lời mời của Thiên-tử hạ sơn theo quân Nam chinh đến giờ, Quách nguyên soái bắt anh em tại hạ ẩn thân. Hôm nay là lần đầu tiên được xuất trận, được trổ một chút bản sự cứu nhị vị tướng quân.
Y nói trống không:
– Nghe nói cách đây nghìn năm, vào thời Âu-lạc bên Giao-chỉ, có một tướng tên Cao Nỗ đã chế ra Thần-nỏ bắn liên châu cùng phương pháp dùng nội lực bắn liên châu. Thần-nỏ thì quân Giao vẫn còn xử dụng. Nhưng phương pháp dùng nội lực bắn liên châu thì thất truyền. Không ngờ trong chiến lũy lại có tới hai cao thủ biết xử dụng thuật này. Phải cẩn thận lắm mới được.
Nhị hùng bàn:
– Anh em tại hạ thấy dường như trong chiến lũy không có quân đóng thì phải, bởi ban nãy binh tướng đã phá lũy, mà sao vẫn không thấy một tên quân Việt xuất hiện? Hay là anh em tại hạ thử cho mấy đệ tử vào thám thính xem sao?
Yên Đạt xua tay:
– Xin các vị đừng nóng nảy. Bởi trong chiến lũy này ẩn núp một hiệu Thiên-tử binh thiện chiến, gan dạ vô cùng tận. Chúng được chỉ huy bởi một tướng có tài dùng binh bậc nhất Đại-Việt. Sở dĩ y không cho quân xuất hiện là vì y muốn giữ sức người, mà trong binh pháp gọi là «Dĩ tật đãi lao» (Lấy khỏe đợi mệt). Vả cuộc tiến quân ban nãy của ta mới là cuộc thử sức phòng vệ của chúng mà thôi.
Yên Đạt cho triệu tập tất cả các tướng từ cấp chỉ huy sư trở lên, cùng Trường-bạch song hùng với hơn trăm đệ tử vào trong trướng để truyền lệnh. Y nói với chư tướng:
– Qua cuộc tiến quân thử sức phòng bị vừa rồi, chúng ta đã biết rất rõ hào sâu bao nhiêu, rộng bao nhiêu, lũy tre dầy mỏng thế nào. Ngày mai (21-1) ta tiến đánh.
Các tướng cùng im lặng chờ đợi. Yên Đạt khích lệ:
– Hoàng thượng đã ban chỉ rằng, trong bốn cánh quân Vạn-xuân, Như-nguyệt, Phú-lương và thủy quân; cánh nào tới Thăng-long trước, thì tất cả tướng sĩ đều được thăng lên bốn trật. Nay tôi nghe tin cánh Phú-lương thất bại. Cánh Như-nguyệt đã phá được phòng tuyến, nhưng Miêu Lý, Trương Thế-Cự thất bại ở Cổ-pháp, cánh thủy quân không có tin tức gì. Vậy ta phải mau chóng nhổ cái gai Yên Dũng, rồi tiến về Thăng-long.
Mặc dù mấy nghìn quân mới bị rắn cắn, chưa biết sống chết ra sao, nhưng chư tướng nghe lời Yên Đạt khích lệ, đều hồ hởi vô cùng tận. Yên Đạt tiếp:
– Hôm qua tôi cùng Khúc tướng quân đã nghị kế đánh Yên Dũng bằng ba đợt. Đợt đầu để dò sức phòng thủ. Nhưng không ngờ tên Lý Đoan quá giỏi thuật dụng binh, y không cho khai chiến, mà dùng chông, dùng hàng rào, dùng rắn làm bị thương hơn năm nghìn người. Trận này coi như ta thất bại.
Y trầm tư một lúc rồi tiếp:
– Ngay mai ta tấn công đợt hai.
Y cười tự đắc:
– Tên Lý Đoan thông minh, nhưng vẫn còn có chỗ ngu. Cái ngu đó là y ỷ vào hào sâu, lũy tre dầy mà quên mất rằng bây giờ là đầu Xuân, tre chưa mọc lá, lá khô dày đặc lẫn với những tre chết khô. Ta dùng hỏa công đốt lũy.
Chư tướng hoan hô.
Yên Đạt tiếp:
– Hôm qua tôi ra lệnh cho chư tướng sai quân vào các xã thu hết rơm rạ, bó thành bó lớn, lại bắt hết trâu của các vùng xung quanh, tổng cộng được gần hai nghìn con. Chư tướng có đặt câu hỏi rằng dùng rơm rạ , với trâu để làm gì? Tôi lắc đầu không trả lời. Hôm nay tôi xin nói rõ rằng ta dùng lá chắn che cho trâu; dùng trâu chở rơm rạ tiến trước, quân núp phía sau tiến tới hào. Tới nơi, quân nhảy ra dùng rơm lấp hào. Hào lấp rồi, châm lửa vào xe rơm, thúc trâu vượt qua hào. Như vậy hàng rào chiến lũy sẽ bị cháy. Khi hàng rào bốc lửa, ta cho quân lùi ra xa núp sau các lá chắn cỏ tươi. Hễ thấy quân Việt xuất hiện chữa cháy là bắn gục ngay. Như vậy ta chỉ cần vạn cung thủ ứng trực thức suốt đêm nay, còn quân thì cho nghỉ. Sáng mai trong khi quân Việt mệt nhừ, hào bị lấp, lũy bị cháy. Bấy giờ ta mới thực sự đánh vào.
Y nói với Khúc Chẩn:
– Trận đốt lũy này nhờ Khúc huynh tổng chỉ huy cho.
Khúc Chẩn đứng dậy nhận lệnh.
Yên Đạt cung tay nói với Trường-bạch song hùng:
– Trận đánh thứ nhì mới chỉ là trận lấp hào, đốt lũy, tiểu tướng chưa dám nhọc đến sức Hạng-vương của nhị vị tiên sinh. Nhưng trận ngày mai, nhất định tiểu tướng phải nhờ đến đại giá hai tiên sinh với chư vị đại hiệp.
Sáng hôm sau (21-1) giờ Thìn, Khúc Chẩn cho dàn ba mặt chiến lũy, mỗi mặt hai mươi chỉ huy tân đằng hải. Vì không phải là trận chiến, nên y dùng toàn quân tân đằng hải, mà không dùng chính binh; mục đích dưỡng sức chính binh cho trận then chốt hôm sau. Chẩn gọi ba đô thống chỉ huy ba mặt tiến công ra lệnh:
– Các người dàn quân làm ba lớp. Lớp thứ nhất có nhiệm vụ lấp hào. Mỗi mặt chiến lũy có năm trăm con trâu được che bởi những lá chắn, trên lưng chất đầy rơm rạ; phía sau mỗi trâu lại có hàng trăm quân vác rơm đi theo. Tới nơi, quân rời khỏi chỗ núp nhanh chóng lấy rơm rạ trên mình trâu ném xuống hào. Sau khi ném hết, thì khẩn trở lại núp sau lá chắn, bằng không sẽ bị tên bắn ra.
Y ngừng lại cho thuộc hạ theo dõi kịp, rồi tiếp:
– Lớp thứ nhì có nhiệm vụ đốt lũy tre. Lớp này đông người hơn. Mỗi binh phải mang theo hai bó rơm-rạ. Khi lớp thứ nhất lấp hào rồi, thì lớp thứ nhì phóng nhanh qua hào, chất rơm vào chân các lũy tre. Chất xong, châm lửa vào các bó cỏ trên xe, rồi thúc trâu vượt qua hào.
Y ra lệnh cho ba tá lãnh coi ba đội tiễn thủ:
– Lớp thứ ba là các tiễn thủ. Tiễn thủ đi sau hai lớp đầu. Khi thấy hai lớp đầu lấp hào, ném rơm-rạ xong; thì để bó rơm trên lưng xuống làm ụ che thân, rồi dùng tên châm lửa bắn vào đốt lũy tre. Nếu thấy quân Man chữa cháy, thì nhắm bắn, mục đích không cho chúng hành động.
Các đô thống, tá lãnh trở về họp quân ban lệnh. Hai khắc sau, quân Tống rầm rộ tiến về chiến lũy Yên Dũng. Nào trâu, nào quân dàn ra, rồi trống thúc rung động trời đất. Ba lớp quân từ từ tiến vào ba mặt chiến lũy.
Trong khi Yên Đạt hội chư tướng ở ngoài, thì trong chiến lũy Hoài-hóa thượng tướng quân, Trực-Tâm hầu Lý Đoan cũng hội chư tướng lại. Vợ chồng Hùng Trí, Hùng Tín, Lý Tứ hết sức khâm phục hầu. Hùng Trí chắp tay:
– Về vai vế, sư thúc Viên-Chiếu là bản sư của hầu; sáu chúng tôi là đệ tử của Mộc-tồn hòa thượng, cho nên hầu gọi chúng tôi là sư huynh sư tỷ. Nhưng trong quân ngũ, hầu là chúa tướng, chúng tôi là bộ thuộc. Qua trận đánh vừa rồi, quả thực chúng tôi sống cạnh hầu bấy lâu nay mà cũng không thể ngờ đến đường lối hành động mà hầu đưa ra. Rút cuộc ta chỉ bắn có ba mũi Lôi-tiễn, thổi mấy điệu sáo sai Thần-long, mà làm cho mấy nghìn binh Tống phải bỏ hàng ngũ, không biết bây giờ chúng sống chết ra sao?
Hầu nói mấy câu khiêm tốn rồi giảng giải:
– Yên Đạt, Khúc Chẩn là hai tướng thương yêu quân, nên chúng không dùng số đông người tràn ngập như Quách Qùy, Triệu Tiết. Vì tràn ngập như đã dùng ở Như-nguyệt, Phú-lương quân sẽ chết nhiều lắm, nên chi y dùng mưu. Y tung ra cuộc tấn công dò thám vừa rồi, nhưng bị thất bại. Chiều nay chắc chắn y sẽ tấn công nữa.
Nghe hầu luận, chư tướng kinh ngạc tự hỏi:
– Đã thất bại, sao Yên, Khúc lại tấn công nữa?
Nhưng họ biết kiến thức hầu bao la nên không dám lên tiếng. Hầu tiếp:
– Hôm qua tế tác báo cho biết quân Tống vào các xã Bắc ngạn, cũng như Nam ngạn Phú-lương bắt tất cả trâu, thu tất cả rơm rạ. Như vậy ắt chúng dùng trâu mang lá chắn như sáng nay, rồi cho quân núp sau để lấp hào, rồi đốt lũy. Lần này ta cho chúng thất bại nữa. Nhưng có điều sau lần này, Yên Đạt nóng lòng quá, ắt y dùng số đông tràn ngập. Bấy giờ viện binh của ta tới, phía sau chúng bị công chúa Thiên-Thành chặn đường về. Hà! Khi Quan-âm tới với ba hiệu binh Thiên-trường, Trường-yên, Phù-Đổng thì ta dư sức phá Yên Đạt.
Hầu nói nhỏ với chư tướng:
– Ta làm như vậy, như vậy.
Chư tướng cùng chắp tay bái phục hầu.
Đúng lúc đó quận chúa Trần Ngọc-Liên dẫn ba mươi mục đồng làng Siêu-loại về tới. Trong ba mươi đứa, có chín đứa là gái, còn hai mươi mốt đứa là trai. Trông đám trẻ đầu để trái đào, da đen bóng, mắt sáng long lanh, dáng dấp khỏe mạnh; hầu tưởng nhớ lại mười tám năm trước mình cùng với bốn người bạn Phạm Dật, Vũ Quang, Hoàng-Nghi, Trần Ninh sống với nhau ở chùa Báo-ân (Từ-quang), phá phách nổi tiếng. Bây giờ chúng còn nhỏ thể này, nào ai biết sau chúng cũng sẽ là đại tướng không chừng? Hầu truyền gọi chúng vào, cho ngồi, rồi hỏi:
– Các em có biết ta là ai không?
Một đứa có vẻ hiểu biết trả lời:
– Bẩm quân hầu, trong xã ai cũng biết năm vị quân hầu cả. Hầu được mang họ vua là họ Lý. Còn tên thì là Đoan; có phải không ạ?
Hầu xoa đầu nó:
– Em tên gì?
– Em là Hổ-đói.
Chư tướng đều bật cười.
– Em bao nhiêu tuổi?
– Dạ em tuổi Thìn.
Chư tướng lại một lần nữa bật cười.
Hầu tính đốt ngón tay rồi nói:
– Như vậy em mười ba tuổi phải không?
– Em không biết nữa. Mẹ em bảo em tuổi Giáp-Thìn, mệnh hỏa là con rồng lửa.
– Ta hỏi em nhé, ngày xưa trong làng mình có ba giáp, trong mỗi giáp mục đồng thường kết thành phe, thường gọi là Phe-nhất, Phe-nhì, Phe-ba. Không biết bây giờ những cái tên này có còn không?
– Bẩm không còn ạ. Năm trước quan đại đô đốc Lý Kế-Nguyên về làng chơi, ngài thấy bọn em tập trận lau như vua Đinh ngày xưa, nên đặt cho Phe-nhất cái tên Phe-hổ; Phe-nhì cái tên Phe-báo; Phe-ba cái tên Phe-gấu. Em là chủ tướng Phe-hổ.
Nó chỉ vào thiếu niên béo tròn béo trục:
– Còn cái thúng này là tướng Phe-báo. Nó có tên là Báo-mập.
Nó lại chỉ vào một đứa lùn tịt:
– Cái thằng lùn này là tướng Phe-gấu. Nó có tên là Gấu-lùn.
Hầu mỉm cười vui vẻ:
– Mười tám năm trước, chúng ta từng chăn trâu, tắm truồng, phá phách như các em, cho nên ta biết các em lắm. Hôm nay giặc Tống tới cướp nước, chúng đông quá, ta không địch nổi chúng. Thế nhưng, mấy vạn quân Tống đó mà các em ra tay thì chúng thua ngay!
Gấu-lùn kinh ngạc:
– Giỏi như quân hầu mà không đánh lại chúng. Trong khi bọn em lại ra tay mà thắng chúng ư? Chúng em đâu có tài thánh Gióng?
– Thế mới lạ chứ. Mỗi người có một tài riêng. Em có biết con mèo với con voi không? Theo em, thì con nào to, con nào khỏe?
– Dĩ nhiên là con voi to hơn, khỏe hơn.
– Thế khi bắt chuột thì voi giỏi hay mèo giỏi?
Gấu-lùn hiểu liền:
– À, em hiểu rồi, chắc có gì mà quân hầu không làm được, trong khi chúng em làm được phải không? Ví như chui vào trại giặc đốt lương chứ gì?
– Gần như thế!
Hầu gọi chúng lại gần giảng giải chi tiết những gì chúng sắp được trao cho. Giảng giải xong hầu hỏi phu nhân:
– Em cho chúng ăn chưa?
– Khi rời làng, cụ lý trưởng đã cho chúng ăn no rồi. Không cần ăn nữa đâu.
Hầu phì cười:
– Em ơi! Phàm con trai ở cái tuổi 12 đến mười bẩy, đứa nào cũng như đứa nào là ăn không bao giờ biết no. Em sai dọn cơm cho chúng ăn đi.
Phu nhân sai dọn cơm, thịt, cá cho đám trẻ ăn. Đám trẻ không ngượng ngập, chúng xới cơm, gắp thịt. Mỗi bát cơm, chúng chỉ và ba cái là hết. Thoáng một cái mỗi đứa ăn hết bẩy bát cơm. Phu nhân mở to đôi mắt ra chưa hết ngạc nhiên, thì hầu nói:
– Em đem xôi chè ra cho chúng ăn.
Phu nhân lại đem cho mỗi đứa một đĩa xôi, một bát chè. Hầu lắc đầu:
– Không đủ đâu em.
Phu nhân vừa lắc đấu vừa cười:
– Bộ các em là con thánh Gióng sao mà ăn hoài không biết no?
Sau khi mỗi đứa ăn hết hai đĩa xôi, hai bát chè, phu nhân mang chuối ra. Chúng vỗ bụng:
– No rồi! No rồi!
Nhưng mỗi đứa cũng bẻ hai ba quả chuối tiêu ăn rất ngon lành.
Hầu trao chúng cho phu nhân huấn luyện sơ sài cách núp, cách quan sát địch, rồi giảng giải nhiệm vụ của chúng:
– Tống bắt hết trâu của ta ở Bắc Phú-lương được nghìn rưởi con. Chúng làm phên che cho trâu, dùng trâu đẩy xe chất rơm rạ. Lát nữa đây quân Tống cho xe trâu đẩy xe rơm tới đốt chiến lũy của ta. Vậy các em có mưu gì đánh lại chúng không?
Báo-mập dơ tay lên nói:
– Nghĩa là giặc Tầu dùng trâu của mình đánh mình phải không?
– Đúng vậy!
Quận chúa Ngọc-Liên đáp: Cho nên chúng ta mới nhờ các đem giúp một tay, vì các em là tướng của trâu.
Gấu-lùn nhảy phắt lên:
– Bọn em biết tiếng trâu, có thể ra lệnh cho trâu. Liệu bọn Tàu có biết tiếng trâu không?
Hổ-đói cốc tay vào đầu Gấu-lùn:
– Mẹ kiếp, mày ngu bỏ bu đi í! Đến tiếng mình, bọn Tầu cũng đếch biết nữa là tiếng trâu.
Nó nói với Ngọc-Liên:
– Thế này, chị cho chúng em ra bờ chiến lũy, khi thấy trâu tới gần, bọn em lệnh cho trâu quay đầu lại húc chết con mẹ nó tụi Tầu cho bõ ghét.
– Các em có thể làm như thế được ư?
Quận chúa Ngọc-Liên hỏi: Ví thử khi trâu đẩy xe rơm tiến đến đốt chiến lũy, thì các em có thể bảo chúng quay ngược lại, đẩy xe lửa vào trận Tống được không?
Gấu-lùn đáp:
– Dễ ợt!
Lý Đoan gọi ba tá lãnh còn trẻ đến ra lệnh:
– Vậy thế này, ba đội của chúng ta chia trấn ba mặt. Mỗi đội được đặt dưới quyền chỉ huy của ba anh này, để tùy theo lệnh của ta mà chống giặc.
Mọi việc vừa hoàn tất, thì trống báo động thúc vang dội. Ba phe Hổ, Báo, Gấu được trao cho tá lãnh trấn ba mặt Tây, Bắc, Đông.
Phía ngoài chiến lũy, quân Tống chia làm ba lớp, thúc trống dàn hàng ngang tiến vào chiến lũy. Lớp đầu núp sau xe trâu, trên xe chất đầy rơm-rạ. Lớp thứ nhì khiêng lá chắn kết bằng cỏ tươi, lưng dắt đoản đao, vai vác rơm-rạ. Lớp thứ ba là các đội tiễn thủ, mỗi người đeo trên lưng một bó rơm-rạ.
Trống thúc, quân reo, xe trâu từ từ vượt qua cánh đồng lầy lội tiến đến hàng rào chiến lũy. Hai lớp sau cách lớp trước một tầm tên (30m) reo hò trợ oai.
Trong khi quân Tống reo hò, thúc trống rung động trời đất, các xe trâu chỉ còn cách hàng rào trăm trượng, mà trong chiến lũy vẫn im lìm.
Rồi hai mươi trượng... mười trượng.
Trong chiến lũy vẫn im lìm, không một bóng người, một tiếng thú.
Khúc Chẩn đánh ba tiếng lệnh. Xe trâu dừng lại. Quân Tống lớp đầu rời chỗ núp sau xe trâu vọt người lên ném các bó rơm-rạ xuống hào. Hào bị lấp mau chóng. Lớp thứ nhất lấp hào xong, lùi lại giữ các lá chẳn cho lớp thứ nhì. Lớp thứ nhì rời lá chắn, vác rơm-rạ vượt qua hào, ném vào chân chiến lũy, rồi lùi lại nấp sau xe trâu. Chúng đồng loạt đánh lửa châm vào những bó rơm-rạ chất trên xe. Lửa trên xe trâu bắt đầu bốc cháy.
Trong chiến lũy vẫn im lìm.
Đứng trên mình trâu quan sát quân mình hành sự, thành công quá dễ dàng, Khúc Chẩn sinh hoài nghi. Y nghĩ thầm:
– Không lẽ tên Lý Đoan đã dẫn quân trốn hết rồi hay sao mà y chưa có hành động gì?
Lửa trên các xe trâu bốc cháy to. Khúc Chẩn đích thân cầm dùi đánh ba tiếng chiêng. Đó là lệnh cho quân thúc trâu vượt qua hào.
Thình lình trong chiến lũy cùng vang lên tiếng tù và, rồi tiếng trẻ con gọi trâu nghé ọ! Nghé ô!... Toàn những ngôn ngữ mục đồng ra lệnh cho trâu. Đoàn trâu đang tiến vào chiến lũy, nghe tiếng tù và, tiếng gọi thì ngừng lại, chúng cùng nghểnh cổ lên lắng nghe; mặc cho quân Tống thúc dục, cầm roi quất lên lưng.
Trong chiến lũy lại vang ba hồi tù và kéo dài, âm thanh thực thê lương. Đoàn trâu nghe tiếng tù và, chúng rống lên, rồi hai chân trước giữ nguyên vị trí, hai chân sau bước ngang. Sau sáu bước chúng đã đẩy các xe đổi chiều: Trước thì quay đầu vào chiến lũy, bây giờ lại quay đầu trở ra. Quân Tống kinh hoảng, không dám thúc trâu nữa, vì nếu thúc, trâu sẽ xung vào trận mình, đốt quân mình. Trước phản ứng kỳ lạ của đoàn trâu, vô tình lưng chúng quay vào chiến lũy. Tên trong chiến lũy bắn ra vun vút, quân Tống bị trúng tên ngã lăn xuống mình trâu. Thoáng một cái đám quân núp sau phên trâu bị giết gần hết. Đám còn lại kinh hoảng nhảy khỏi xe, bỏ chạy về trận tuyến mình.
Lửa bốc cao trên các bó cỏ. Lại có tiếng tù và, tiếng trẻ gọi trâu. Một tiếng pháo nổ lớn, từ trong chiến lũy, ba đội Phe-hổ, Phe-báo, Phe-gấu được Thiên-tử binh hộ tống, chui ra khỏi chiến lũy. Chúng lội ruộng cực kỳ nhanh, thoát một cái, chúng đã cỡi trên lưng trâu, rồi thổi tù và, cất tiếng ra lệnh cho trâu. Đám Thiên-tử binh cũng nhảy lên lưng những con trâu còn lại. Đoàn trâu rống lên đẩy xe tiến về trận tuyến Tống. Hai lớp quân Tống núp sau những tấm phên bằng cỏ tươi thấy đoàn trâu hóa điên đẩy ra lửa quay ngược về trận mình thì kinh hoảng. Chúng bỏ phên tháo chạy. Nhưng sức người chạy dưới bùn sao bằng sức trâu? Chúng bị trâu đẩy xe chứa rơm-rạ cháy ngùn ngụt cán lên người, bị Thiên-tử binh bắn ngã la liệt trên cánh đồng đầy nước.
Thế là trận Tống bị vỡ.
Ghi chú,
Trận chiến này sau được chép trong gia phả họ Khúc như sau:
« ...Yên Đạt sai bắt trâu đẩy xe chất rơm-rạ kết thành trận đốt ải Yên-dũng, nhưng Yên không dám chỉ huy, mà giao cho tổ (Khúc Chẩn). Trong khi quan quân đang đốt ải, thì tướng Man là Lý Đoan dùng mục đồng sai trâu quay ngược lại đánh Thiên-binh. Trận bị vỡ. Tổ can đảm cùng đội võ sĩ cản hậu, chống với bầy trâu. Nhờ vậy, quân Thiên-binh mới không bị tan ».
TTCTGCK chép:
« Yên Đạt, Khúc Chẩn giết được phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên của Giao-chỉ ở Phú-lương, rồi đem quân vượt sông. Quân tới Yên-dũng thì bị tướng giặc là Lý Đoan với vợ là Trần Ngọc-Liên tử chiến chặn lại. Đạt lập ngưu-hỏa trận, sai Khúc Chẩn đốt ải Yên-dũng, nhưng bị tướng Giao Lý Đoan sai mục đồng ra lệnh cho trâu quay đầu lại, quân triều bị chết nhiều... »
Lý Đoan thấy trâu đuổi quân Tống rời khỏi chiến lũy đến hơn hai dặm, hầu đánh ba tiếng thanh la. Đội Thiên-tử binh vung đao lên cắt hết dây, trâu thoát khỏi ràng buộc vào xe. Ba đội Phe-hổ, Phe-báo, Phe-gấu lững thững đánh trâu quay về chiến lũy, chúng rút ống tiêu trong bọc ra, tấu khúc nhạc dân dã, âm điệu dìu dặt, đầm ấm.
Lý Đoan cùng phu nhân thân ra cổng đón ba đội Phe-bổ, Phe-báo, Phe-gấu cùng đội Thiên-tử binh dẫn gần hai nghìn con trâu chiến thắng trở về. Đúng là điếc không sợ sấm, bọn trẻ con lần đầu tiên ra trận đã chiến thắng ngay; chúng nào có biết những luật lệ trong quân? Miệng chúng bô bô kể cho nhau nghe chiến công của mình, rồi cãi nhau. Biết rằng không thể dùng uy quyền bắt chúng im lặng, quận chúa Trần Ngọc-Liên hỏi chúng:
– Các em đã đói chưa?
– Thưa chị đói lè lưỡi ra rồi!
Các em hãy ngừng tranh luận! Ăn đã. Có thực mới vực được đạo.
Đám trẻ rời trâu, bỏ kể truyện, chúng ăn như hổ, như báo. Đợi cho chúng ăn xong, Lý Đoan triệu tập tướng sĩ để bàn kế hoạch giữ chiến lũy. Hầu nói:
– Trận đầu, bọn Yên Đạt, Khúc Chẩn dò dẫm thực lực, chướng ngại vật của ta. Trận thứ nhì, chúng định đốt chiến lũy, nhưng ta đã tương kế tựu kế, dùng đám mục đồng phá được. Nhưng thời gian không cho Yên Đạt chờ đợi lâu nữa, chắc chắn y sẽ đánh ta ngay chiều nay. Trong khi viện quân chưa tới. Vậy chư tướng có ý kiến gì?
Lý Tứ đề nghị:
– Thuộc hạ nghe Hổ-đói nói, chúng có thể sai trâu làm tới 36 việc khác nhau. Vậy ngay bây giờ ta cho trưng dụng tất cả trâu quanh vùng này, với gần hai nghìn con trâu bắt được rồi buộc dao vào sừng, buộc dáo vào vai. Đợi khi quân Tống tiến đánh chiến lũy, đang băng qua đồng lầy thì tung trâu ra đánh một trận. Như vậy may ra cản được bước tiến của chúng trong vòng một ngày. Bấy giờ thì viện binh tới rồi.
Hầu không đồng ý:
– Không được. Khi đệ cho Ngọc-Liên về Siêu-loại mượn đám trẻ này, đã hứa rằng chỉ nhờ chúng trợ giúp một trận rồi trả về. Ta không thể dùng chúng như binh lính được. Ta phải giữ chữ tín.
Một đứa nữ mục đồng tuổi khoảng mười ba, mười bốn xua tay:
– Bọn em không về đâu! Bọn em ở lại giúp quân hầu đánh giặc.
Bọn trẻ nhao nhao lên. Hổ-đói nói lớn:
– Nhất định không về. Cọn em xin ở lại đánh giặc.
Hầu ra lệnh cho bọn trẻ im lặng:
– Nhưng ta đã hứa với làng rồi, ta không thể nuốt lời.
Một đứa con gái khác thỏ thẻ, nói như nũng nịu với cha, mẹ, tay nắm lấy vai phu nhân:
– Chị Ngọc-Liên, chị có thương bọn em không? Nếu chị thương bọn em, thì cho bọn em ở lại đánh nhau với Tống « cho vui ». Nếu cần chết để giữ nước, thì cả làng ta có chết cũng cứ được đi huống hồ bọn em. Bọn em không về đâu.
Hầu vẫn lắc đầu.
Gấu-lùn hỏi các bạn:
– Có đứa nào muốn về không?
Lập tức cả bọn nhao nhao lên:
– Không về! Không về!
– Ở lại đánh giặc!
– Giết cũng không về!
Quận chúa Trần Ngọc-Liên đề nghị:
– Các em nó đã quyết chiến, ta chẳng nên làm phụ lòng chúng. Hầu có nhớ hồi đánh trận Đồ-bàn không? Chúng ta chả từng bướng với Trung-Tàhnh vương, xin tử chiến đó sao? Tuổi trẻ yêu nước nhiệt thành, đó là lẽ thường của con cháu thánh Gióng.
Lý Đoan đành chấp thuận. Nhưng đi trưng dụng trâu các làng xung quanh e không kịp. Hầu trao ba đội mục đồng cho ba tá lãnh để buộc dao vào sừng, cột dáo vào cổ, rồi luyện tập. Không ngờ bọn trẻ dùng trâu bầy trận đã quen, nên khi khởi sự, chúng dàn trâu cho xung phong, đánh sang phải, đánh sang trái rất nhịp nhàng.
Mọi sự cụ bị, thì đã sang giờ Mùi. Ưng binh vào trình cho hầu một phong thư. Hầu mở ra coi, thì ta lệnh của vua bà Bình-Dương:
« Công chúa Thiên-Thành, phò mã Thân Cảnh-Long đã đi đường thượng đạo đánh úp lại được ải Đâu-đỉnh. Đêm nay sẽ tràn xuống Phú-lương đánh chiếm hậu cứ của Yên-Đạt. Ta với phò mã đem hiệu Trường-yên tiếp viện cho Yên-dũng. Còn hiệu Thiên-trường đánh vào ngang hông phải Yên Đạt. Hà Mai-Việt đem kị binh đánh vào hông trái chúng. Khi thấy ba đạo viện binh tấn công, giặc bỏ chạy thì mở cửa chiến lũy truy kích chúng ».
Hầu đọc đem lệnh đó đọc cho chư tướng nghe. Lệnh vừa đọc xong, thì trống ngũ liên đánh rung động chiến lũy. Quân thám sát báo:
– Giặc tổng tấn công.
Hầu cùng chư tướng ra vị trí chiến đấu. Leo lên đài chỉ huy, hầu phát rùng mình, vì quân Tống hàng hàng lớp lớp đang núp sau các phên cỏ tươi dàn trận tiến tới chiến lũy. Lý Tứ ớn da gà:
– Chúng dùng toàn lực đánh xả láng đây.
Lý Đoan cầm dùi đánh ba tiếng lệnh. Nỏ binh bắn lên trời ba trái Lôi-tiễn. Lôi tiễn nổ ba tiếng như sấm động trên không, lập tức trong chiến lũy cờ xí đồng loạt dựng lên, rồi trống thúc, quân reo, thú gầm. Hầu nói với Lý Tứ:
– Hai lần trước ta giữ im lặng để gây hoang mang cho giặc. Trái lại lần này ta lại ra mặt, khiến chúng hoang mang nữa. Đó là phép dùng binh của công chúa Thánh-Thiên, ta luôn chủ động trên chiến trường.
Quân Tống đã vào sát chiến lũy, chúng rời lá chắn lao mình qua hào, ném rơm vào chân các lũy tre. Quân Việt chỉ chờ có thế, lập tức buông tên. Lớp xung phong đầu tiên của quân Tống bị thất bại, có người chết ngay cạnh lá chắn, có người chết bên hào, có người chết ngay ở chân bụi tre.
Khúc Chẩn lại đánh ba tiếng lệnh, quân Tống từ lớp thứ nhì ôm rơm-rạ xung phong, lần này phân nửa những bó rơm-rạ được ném vào chân lũy tre, nhưng quân Tống lại bị tên bắn chết hết.
Quân chết mặc quân chết. Khúc Chẩn cho lớp thứ ba xung phong, lớp này vừa rời khỏi lá chắn, ném rơm-rạ vào chân lũy tre, thì phía sau, tiễn thủ Tống đốt lửa châm vào đầu mũi tên tẩm dầu bắn tới. Những bó rơm-rạ bốc cháy ngùn ngụt. Đội tiễn thủ Tống dàn hàng núp sau các bó rơm, tay ghìm cung tên sẵn, hễ thấy quân Việt nhô ra cứu hỏa là bắn.
Trong chiến lũy phát ba tiếng pháo. Cổng chiến lũy mở rộng.
Ngay mặt tiền chiến lũy là bãi đất rộng, đội hổ xông ra bên trái, đội báo xông ra bên phải, đội voi đông ra chính giữa, phía sau là các xe chở nỏ thần. Hổ, báo, voi vừa ra khỏi chiến lũy đã chọc thủng phòng tuyến Tống. Quân Tống can đảm đứng lại dàn trận chống với hổ, báo, voi, thì phía sau nỏ liên châu bắn tới từng loạt, từng loạt. Quân Tống ngã lổng chổng.
Mặt này đích thân Yên Đạt chỉ huy. Y thấy tiền quân bị vỡ thì cho đội thiết đột tiến lên. Đội thiết đột tay cầm thuẫn che thân, tay cầm đoản đao lao vào trận chống với thú binh. Cuộc chiến đang diễn ra kốc liệt, thì tế tác hơ hải báo với y:
– Thưa tướng quân, quân Giao từ Bắc cương âm thầm tiến về đánh úp mất ải Đâu-đỉnh. Thế là ta tuyệt đường tải lương, đường rút quân.
Yên Đạt kinh hoàng hỏi:
– Quân Giao đánh Đâu-đỉnh là đạo quân nào?
– Thưa của Thân Cảnh-Long với Thiên-Thành.
Mặc dầu hung tin đến, nhưng thế không lùi được, Yên Đạt vẫn bình tĩnh nói với chư tướng:
– Phía trước là chiến lũy kiên cố, phía sau hậu cứ bị chiếm, không có đường lui. Ta lâm thế tiền hậu thọ địch mất rồi. Nếu ta rút về chiếm lại hậu cứ, ắt bị tên Lý Đoan truy kích khó mà vượt sông được. Vậy thì bằng mọi giá, ta phải diệt tên Lý Đoan, rồi mới có thể lui quân.
Y ra lệnh cho Khúc Chẩn:
– Khúc huynh đem mấy đạo binh thiện chiến khẩn trở về chiếm lấy đầu cầu Bắc ngạn, bảo vệ phù kiều. Tôi sẽ phá chiến lũy Yên-dũng rồi chúng ta cùng đánh chiếm lại con đường rút về Lạng-châu.
Y nói với Trường-bạch song hùng:
– Xin nhị vị tiên sinh với quý cao đồ thanh toán dùm đám tướng giặc chỉ huy nỏ thần với thú binh. Sau đó đột nhập chiến lũy giết chết bọn tướng Giao-chỉ mở đường cho thiết đột đánh vào. Sau khi diệt Yên-dũng ta mới rút lui an toàn.
Trường-bạch song hùng lùi lại dặn dò đám đệ tử mấy câu, rồi chia trên hai trăm người làm bốn đội, tiến lên hàng đầu. Sau một tiếng quát của Nhất– hùng, bốn đội cao thủ tay múa đao gạt tên tiến lên. Thoáng một cái đám này đã nhập vào trận Việt. Mỗi đao vung lên là một hổ, một báo hay một voi bị giết.
Đứng trên voi chỉ huy, quận chúa Trần Ngọc-Liên thấy ngay cái nguy cơ của quân mình, bà ra lệnh cho đội tiễn thủ tiến lên nhắm vào đám cao thủ buông tên. Bị bất ngờ, hơn hai mươi cao thủ Trường-bạch bị bắn ngã. Trường-bạch song hùng quát lên một tiếng lớn, hai người nhấp nhô mấy cái đã vượt qua đội thú binh, đội nỏ binh tiến tới trước voi của quận chúa. Đội cận vệ chùa Báo-ân bao vây lấy hai người bảo vệ chúa tướng. Nhất hùng chỉ đánh hai chiêu, khiến Mai-Tứ phun máu miệng. Y tung mình lên dùng một thế ưng trảo chụp Ngọc-Liên. Bà kinh hãi đưa kiếm chặt tay y. Y búng tay một cái, kiếm củ bà gẫy làm năm sáu mảnh, tiếp theo y dánh xuống người bà một chưởng. Bà nghiến răng đỡ, bình một tiếng người bà bay tung xuống khỏi mình voi. Đám nữ võ sĩ cận vệ ôm lấy bà chạy về chiến lũy. Nhị hùng quay lại cùng các đệ tử thanh toán đám hổ tướng, báo tướng, nỏ tướng.
Trong chiến lũy, Lý Đoan đã thấy cái nguy của tiền quân mình, hầu cho phát hai tiếng pháo. Đội nỏ thần bắn hai loạt liền rồi tiền đội đổi làm hậu đội, vừa bắn yểm trợ cho đội thú vừa rút lui. Hai đội tiễn thủ hơn ba mươi người cùng dương cung hướng Trường-bạch song hùng buông tên. Hai người vọt mình lên cao tránh tên. Lập tức đội tiễn thủ khác hướng lên trời bắn theo. Tuy chới với trên không, nhưng Song-hùng không coi đám tên này ra gì, hai người phất tay một cái, khiến bao nhiêu tên bay dạt ra xung quanh. Nhưng khi hai người rơi xuống, thì vệ sĩ đã vực quận chúa Ngọc-Liên lùi đến cổng chiến lũy. Thú, nỏ thần từ từ vào trong chiến lũy. Cổng đóng lại.
Trên bãi đất bên ngoài chiến lũy, xác quân Tống lẫn xác thú trải trên một vùng dài.
Yên Đạt hô quân đuổi theo. Quân Tống hàng hàng, lớp lớp reo hò tiến vào chiến lũy. Thiên-tử binh từ trong bắn ra ào ạt.
Trường-bạch song hùng cùng đám đệ tử xung lên hàng đầu. Chỉ nhấp nhô mấy cái, thầy trò đã tới hàng rào rồi tung mình lên cao, đáp trên cổng. Tên trong chiến lũy bắn mặc tên bắn, hai người vung tay gạt tên, rồi nhảy vào trong. Còn ở trên cao, hai người phóng chưởng đánh vào đội tiễn thủ. Sáu Thiên-tử binh bị bay tung lên cao, tan xương nát thịt chết tại chỗ. Hai người đánh liền mười chưởng, đội tiễn thủ trấn ở cổng Bắc hoàn toàn bị tan rã. Đám đệ tử Trường-bạch nhảy xuống chém then mở cổng. Quân Tống reo hò ào tràn vào như nước vỡ bờ.
Trong chiến lũy vang lên những tiếng « nghé ọ, nghé ọ! » rồi tiếng tù và. Một đoàn trâu sừng buộc dao nhọn, lưng buộc dáo dài hùng hổ húc vào đội hình quân Tống. Đám quân này kinh hoảng, vừa chống trả vừa lui. Sau hơn mười bước, quân Tống bị đẩy bật ra khỏi chiến lũy.
Đám Trường-bạch đã tiến sâu vào trong chiến lũy, khi nhìn lại thì phía sau họ quân Tống bị đánh bật ra ngoài, còn họ thì bị vây bởi bầy trâu. Đám trâu rống lên xung vào húc túi bụi. Bị bất ngờ, hơn mười cao thủ Trường-bạch bị trâu húc trọng thương.
Trường-bạch song hùng quay trở lại phía sau mở vòng vây cho quân Tống vào chiến lũy. Song hùng vung chưởng lên, mỗi chiêu một trâu bị hạ. Nhưng đám trâu lì như « trâu », ngu như « trâu », con này chết, con khác lăn vào. Song hùng đảo mắt tìm tướng chỉ huy trâu, mà tuyệt không thấy. Đâu đó vang lên tiếng « nghé ọ! nghé ơ!» cùng tiếng tù và.
Trường-bạch song hùng là những cao thủ bậc nhất Trung-nguyên, nhưng bây giờ bị vây bởi bầy trâu điên, giết chết con này, con khác lao tới. Hai người cố công tìm, chưởng tung ra, mỗi chiêu một trâu ngã, mà không thấy người chỉ huy. Chợt để ý thấy tiếng tù và phát ra từ ngọn cây soan gần đó. Hai người nhìn lên, thì chỉ thấy một đứa con gái tuổi khoảng mười hai mười ba đang đứng chỉ huy.
Trong lòng Song-hùng nảy ra một niềm khâm phục, hai người than thầm:
– Khi khởi hành mình cứ chê triều đình rằng với cái xứ thấp nhiệt nhỏ bé này, việc gì phải sai Quách Quỳ mang quân nghiêng nước sang chi cho vô ích? Bây giờ mình mới hiểu. Với đứa con gái tuổi còn để trái đào thế kia, mà từ nãy đếm giờ nào anh em mình, nào trên hai trăm cao thủ, nào thiết đột, mà bị nó sai trâu cản lại đến nỗi chân tay như bị bó lại vậy. Ta hãy bắt con bé, nhưng không thể giết nó.
Nhất-hùng ra lệnh cho một đệ tử. Tên này lao tới vung chưởng đánh vào cây soan. Cây soan từ từ đổ xuống, đứa con gái trên cành cây cười lên một tiếng rồi nhảy ùm xuống cái ao gần đó lặn mất.
Tưởng rằng bé gái lặn mất thì bầy trâu không người chỉ huy ắt trận thế vỡ. Không ngờ từ hai hông, hai bầy trâu khác lại lao tới. Tiếng tù và vẫn rúc lên đều đều. Trận chiến giữa người với trâu lại tiếp tục. Hơn khắc sau bầy trâu chỉ còn hơn mười con.
Vòng vây được mở ra, quân thiết đột ào ào tràn vào. Hai đội đánh quặt sang hai bên phải, trái. Một đội tràn vào giữa chiến lũy.
Đội hổ, báo, voi, sói cùng Thiên-tử binh dàn hàng ra cản lại. Trận chiến lại diễn ra khốc liệt.
Yên Đạt quay lại quan sát trận tuyến hai bên hông chiến lũy. Chiến lũy bị đốt cháy, nhiều đoạn rào bị phá. Quân Tống reo hò tràn vào. Thiên-tử binh chặn lại. Trận chiến diễn ra cực kỳ khốc liệt. Quân Tống tuy tinh nhuệ đông gấp bội quân Việt, nhưng phải lội dưới sình, di chuyển khó khăn. Ngược lại bên Việt quân ít, nhưng nhờ quen lội sình, lại được đoàn trâu hung dữ yểm trợ, vì vậy cuộc chiến dằng co chưa quyết định.
Tại trung ương, Trường-bạch song hùng để mặc quân Tống quần thảo với Thiên-tử binh, thú binh. Hai người dẫn đệ tử hướng đài chỉ huy của Lý Đoan. Thoáng một cái hai người đã tiến sát tới đài. Lý Tứ thấy nguy, vội cầm cờ đen phất, đâu đó tiếng sáo tỉ tê cất lên. Một bầy ong bầu từ trên trời đáp xuống đốt thầy trò Trường-bạch. Bị bất ngờ, thầy trò Trường-bạch bị ong đốt nhức thấu tâm cam. Người người vung chưởng đánh dạt ong ra, thì lại bị đội tiễn thủ bắn tới. Đám đệ tử Trường-bạch phần bị ong đốt, phần bị trúng tên, kẻ chết, người bị nọc ong hành; chúng la hét bỏ chạy ra xa.
Song-hùng quát lên một tiếng, đám đệ tử khác múa tít đao xông tới thoáng một cái năm thiếu nữ chỉ huy ong bị giết chết. Bầy ong không người điều khiển bay lên cao. Thầy trò Trường-bạch tới chân đài chỉ huy, Lý Tứ cùng đội đệ tử chùa Báo-ân cản lại. Nhất-hùng đánh một chưởng, Lý Tứ bị bắn tung lại sau. Hơn nửa khắc sau, đội đệ tử chùa Báo-ân bị đánh ngã hết.
Song-hùng hô đệ tử dùng đao chặt đài, thì có tiếng « nghé ọ! Nghé ô!» tiếng tù và vang lên. Một đứa trẻ béo chùn béo chụt đứng trên ngọn cây đa đang rúc tù và. Bầy trâu hơn năm mươi con, sừng buộc dao nhọn, lưng buộc dáo dài hùng hổ lăn xả vào húc đám cao thủ đang vây đài chỉ huy.
Thầy trò Trường-bạch phải ngừng chặt chân đài, đánh nhau với bầy trâu. Nhất-hùng muốn giết đứa trẻ, đích thân y bám rễ đa, chỉ nhấp nhô mấy cái, y đã leo lên ngọn cây. Thằng bé cười ha hả:
– Lão già kia, lên đây chơi với tớ.
Nó nói tếng Việt, thành ra Nhất-hùng không hiểu gì cả. Khi y lên tới gần đứa trẻ, thì nó lại truyền sang cành khác, rồi đáp xuống lưng một con trâu. Nhất-hùng nhảy theo, thì nó luồn xuống bụng trâu lủi mất.
Sau hơn hai khắc giao chiến, bầy trâu đã bị hạ gần hết. Đám đệ tử Trường-bạch lại dùng đao chặt đài. Ba chân đài bị đẵn gẫy, đài lắc lư, nhưng chưa đổ. Song-hùng quát lên một tiếng cùng phóng chưởng vào chân đài còn lại. Rầm một tiếng, đài nghiêng đi, rồi từ từ đổ xuống.
Trên đài, Lý Đoan thấy quân Tống đã tràn ngập chiến lũy, quân Việt đang chiến đấu tuyệt vọng, đài bị đánh ngã; hầu bình tĩnh hú lên một tiếng. Bầy trâu trừ bị cuối cùng của Hổ-đói xông đến cứu chúa tướng. Để mặc cho đám đệ tử quần thảo với bầy trâu. Nhất-hùng tung mình đến đài vừa đổ xuống phóng một chưởng như trời nghiêng đất lệch hướng Lý Đoan. Lý Đoan biết rằng nếu mình đỡ chưởn đó, ắt nát thây ra mà chết. Hầu tung mình khỏi đài, lẫn vào bầy trâu. Nhất-hùng nhấp nhô một cái đã đuổi kịp, y phóng liền hai chưởng, hai con trâu với Lý Đoan bị bật tung ra xa đến hơn trượng. Một con bị vỡ làm ba mảnh, ruột gan, máu thịt tung toé. Một con chổng vó lên trời mà rống. Còn Lý Đoan thì đang ôm ngực quằn quại.
Trận Việt không người điều khiển bắt đầu rối loạn.
Nhất-hùng tung mình tới quyết giết Lý Đoan. Y nghiến răng phát một chưởng bằng tất cả bình sinh công lực định đánh cho đối thủ nát thân. Chưởng của y chưa ra hết mà đã khiến cho mấy võ sĩ Việt lảo đảo muốn ngã. Thấp thoáng một bóng người xẹt tới, nhanh không thể tưởng tượng được, người này ra chiêu cầm long trảo, phẩy tay một cái, khiến Lý Đoan bật tung lên cao, rồi rơi trên lưng một con trâu; giống như người ta vực để lên vậy. Chưởng của Nhất-hùng đánh xuống đất, ầm một tiếng, đất lủng thành một hố sâu như cái thúng.
Nhất-hùng chưa kịp nhìn xem ai đã cứu Lý Đoan, thì người ấy đã phóng chưởng hướng người y. Chưởng chưa ra hết, mà y đã cảm thấy như có như không, rõ ràng chính đại quang minh, mà sát thủ cực kỳ khủng khiếp. Y cười nhạt một tiếng, phát một chiêu Huyền-âm chưởng đỡ. Ầm một tiếng, y lảo đảo lùi lại tai phát ra tếng vo vo không ngừng, khí huyết trong người y đảo lộn, hồn phách bay phơi phới. Y định thần nhìn đối thủ: Đó là một người thân thể hùng vĩ, tuổi tuy cao, nhưng tư thái phong lưu, tiêu sái như cây ngọc trước gió.
Y quay lại, Nhị-hùng đang đấu kiếm với một lão ni, chưa phân thắng bại. Xung quanh y, một đội nữ cao thủ dùng kiếm đang giao chiến với đệ tử của y. Lý Đoan đang đứng trên mình trâu cầm cờ chỉ huy. Một đội binh Đại-Việt mới tới, dàn ra thực nhanh lao vào vòng chiến cùng hiệu Bổng-nhật đánh với quân Tống. Tuy gặp kình địch, đang đứng trước trận, nhưng không hổ là đại tôn sư võ học Trung-nguyên, Nhất-hùng chắp tay hướng đối thủ:
– Trường-bạch nhất hùng nước Đại-Tống xin được biết cao danh quý tính tiền bối?
– Thì ra tiên sinh là Nhất-hùng trong Trường-bạch song hùng danh trấn Trung-nguyên về Huyền-âm chưởng đấy! Tại hạ họ Thân, tên Thiệu-Thái, hân hạnh được tham kiến tiên sinh.
Nhất-hùng kinh hãi nghĩ thầm:
– Mình đáng chết thực! Thì ra kẻ đả bại Nhật-Hồ lão nhân bốn mươi năm trước, nay vẫn còn tại thế. Hèn chi chiêu Huyền-âm chưởng của mình vừa rồi không làm cho y tổn thương. Y vỗ hai tay vào nhau:
– Thì ra đại giá Lạc-long giáo chủ, Thân phò mã đấy. Tại hạ lớn gan, muốn lĩnh mấy chiêu Mục-ngưu thiền chưởng của giáo chủ.
– Xin mời.
Nhất-hùng vận công, phát Huyền-âm chưởng. Chưởng chưa ra hết mà mọi người đã cảm thấy lạnh buốt tới xương. Thiệu-Thái phát chiêu Sơn-trung tầm ngưu trả đòn. Vì Mục-ngưu thiền chưởng là chưởng dương cương nên kình cực cực mạnh. Hai chưởng gặp nhau phát ra tiếng ầm lớn. Thiệu-Thái kinh ngạc nghĩ thầm:
– Công lực thằng cha này thực không tầm thường, có lẽ hơn Nhật-Hồ lão nhân khi xưa. Nếu hồi đại hội Lộc-hà mà ta gặp y, thì e không chịu nổi của y quá mười chiêu. Võ công Trung-nguyên tiến mau thực.
Nghĩ vậy, ông phát chiêu Kiến tích dã ngưu đẩy vào hông đối thủ. Nhất-hùng lại phát Huyền-âm chưởng đỡ. Hai người đại cao thủy quấn lấy nhau giao đấu, khiến đám cao thủ Mê-linh, Trường-bạch phải ngừng chém giết, đứng ngây người ra mà xem.
Quân Tống đã tràn vào trong chiến lũy. Về phía quân Việt, tuy có thêm hiệu Trường-yên tiếp viện, nhưng cả hai hiệu cộng lại chưa quá hai vạn người, trong khi quân Tống đông đến bốn, năm vạn. Cuộc chiến diễn ra cực kỳ ác liệt. Quân Việt tuy ít, mà nhờ có thú binh, nỏ thần, bầy trâu yểm trợ, nên cuộc chiến vẫn chưa nghiêng về bên nào.
Yên Đạt đứng trên mình ngựa đốc chiến. Bao nhiêu hy vọng y đổ cả vào Trường-bạch song hùng, với ước mong hai người này giết hết tướng địch, thì hàng ngũ quân Việt phải rối loạn. Từ lúc thấy phò mã Thân Thiệu-Thái xuất hiện thì y tuyệt vọng. Nhưng y đã đạt được thắng lợi: Quân Tống đã vào trong chiến lũy, quân số đông gấp mười quân Việt. Chỉ cần trong vòng nửa giờ nữa y sẽ thanh toán hết hiệu Bổng-nhật rồi tiến về Thăng-long. Y ra lệnh dồn quân vào trong chiến lũy, chỉ để ở ngoài một số bảo binh, tân đằng hải mà thôi.
Cuộc chiến mỗi lúc một khốc liệt. Quân Tống đã vây quân Việt vào làm ba khu. Khu trung ương, khu Tây, khu Đông. Quân Việt đang lâm thế tuyệt vọng. Bỗng quân thám mã báo:
– Có hiệu binh Thiên-trường đang tiến về phía trái của ta định chặn đường về Phú-lương.
– Quân Thiên-trường là quân địa phương, không thiện chiến, không tinh nhuệ. Cả hiệu binh chưa quá một vạn. Hãy cho hai vạn tân đằng hải chặn lại.
Tuy vậy Yên Đạt cũng hơi lo lắng. Y đưa mắt nhìn: Quận-chúa Trần Ngọc-Liên đang ngồi trên bành voi chỉ huy, y phục đẫm máu. Lý Đoan đứng trên lưng một con trâu điều quân. Khu Đông, khu Tây vợ chồng Hùng Trí-Âu Lam, Hùng Tín-Âu Hồng võ công cực cao, đang đứng trên mình voi cầm cờ chỉ huy. Hai tướng Tống mặt này đã bị giết, hiện do các đô thống chỉ huy.
Y nói với Nhị-hùng:
– Tiên sinh! Đánh giặc thì không kể gì đến lề luật võ lâm. Mong tiên sinh nhập cuộc hạ tên Thiệu-Thái, thì mới mong giết hết bọn tướng giặc.
Nhị-hùng hú lên một tiếng, rồi xuất chưởng đánh vào hông Thiệu-Thái. Thiệu-Thái đang đấu với Nhất-hùng, thình lình bị Nhị-hùng tấn công, phản ứng tự nhiên ông dẩy chưởng của Nhất-hùng vào chưởng của Nhị-hùng. Vô tình ông vận Hồng-thiết công của Hồng-thiết giáo. Ầm một tiếng, anh em song hùng cùng cảm thấy choáng váng, mùi hôi tanh nồng nặc bốc ra cả một vùng. Nhất-hùng la:
– Nhị đệ cẩn thận! Y dùng võ công Hồng-thiết giáo bằng thiền công.
Nhưng ỷ vào Huyền-âm chưởng vô địch thiên hạ, cả hai cùng tái xuất chiêu tấn công. Có tiếng quát thanh thoát:
– Hai người đánh một ư?
Rồi một bóng trắng xẹt tới nhanh không thể tưởng tượng được đưa kiếm vào cổ Nhị-hùng. Thất kinh, y lộn liền hai vòng ra sau tránh đòn, nhưng mũi kiếm theo y như bóng với hình. Hoảng hốt y thụp người xuống, rồi lăn liền hai vòng, sau đó uốn cong người vọt dậy. Nhưng y cảm thấy đau nhói ở cổ, thì ra mũi kiếm vẫn theo sát y. Lòng y nguội như tro tàn, y chửi tục:
– Mẹ cha nó! Mi đánh trộm, ta không phục.
Bóng trắng thu kiếm về, rồi nói bằng giọng ngọt ngào:
– Tiên sinh nói đúng. Vì ta ra tay trước nên chiếm được tiên cơ. Nhị tiên sinh, người rút kiếm ra đi.
Báy giờ Nhị-hùng mới nhìn rõ đối thủ, đó là một thiếu phụ đẹp như Quan-thế-âm. Chợt nhớ ra một điều, y than:
– Thì ra vua bà Bình-Dương, hèn chi kiếm thuật thần thông. Tại hạ muốn lĩnh mấy cao chiêu của Long-biên kiếm pháp.
Đến đây y cảm thấy trong lồng ngực đau nhói như bị một nhát dao đâm vào, rồi hai nhát, rồi ba nhát. Không tự chủ được, y hét lên:
– Ái! Đau quá.
Y quay lại, thì thấy Nhầt-hùng cũng ở vào trường hợp tương tự. Y nghiến răng nói:
– Giáo chủ! Tại hạ nghe giáo chủ là đệ tử của Bố-Đại hòa thượng, thuộc danh môn chính phái, mà sao lại dùng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng để đánh người?
Thiệu-Thái chắp tay tạ lỗi:
– Thời thơ ấu tại hạ quả có luyện Hồng-thiết tâm pháp. Ban nãy tại hạ đang dùng hết sức để chống với Nhất-hùng, thì bị Nhị-hùng tấn công. Trong lúc nguy nan, tòng tâm xử dụng, tại hạ đã xuất chiêu bằng Hồng-thiết tâm pháp, nên làm cho nhị vị tổn thương. Tại hạ muôn vàn hối tiếc.
Vua Bà tiến lên nói:
– Trước khi ra trận, cô em dâu tôi là công chúa Huệ-Nhu có nhắn rằng: Hồi chư vương bên Đại-Việt làm loạn, Nhị-hùng nghe theo tiếng gọi của công chúa đã sang trợ giúp triều Lý nhà tôi. Vì vậy bất cứ giá nào chúng tôi cũng không được phạm đến thân thể nhị hùng. Kinh-Nam vương có nhắn chúng tôi mời nhị hùng về Thiên-trường chơi, chẳng nên lăn mình vào chỗ chết cho cái mộng điên rồ của Vương An-Thạch. Không biết nhị vị nghĩ sao?
Nhị-hùng biết rằng đây là điều kiện vua bà đưa ra. Nếu hai người chấp thuận thì sẽ được Thiệu-Thái giải độc cho. Bằng không thì mỗi ngày lên cơn một lần, sau 49 ngày thì chết. Nhất-hùng đưa mắt nhìn em, rồi cung tay:
– Đa tạ giáo chủ, đa tạ vua Bà.
Thiệu-Thái móc trong túi ra hai viên thuốc trao cho song hùng:
– Đây là hai viên thuốc tạm giải cái độc cho nhị vị. Tôi xin cử người đưa nhị vị về Thiên-trường. Khi tới Thiên-trường, Kinh-Nam vương sẽ dùng thần công trị vĩnh viễn độc tố cho nhị vị.
Vua Bà hướng vào trận của đám đệ tử Mê-linh, Trường-bạch hô lớn:
– Ngừng tay!
Đám đệ tử Mê-linh, Trường-bạch cũng lùi lại phía sau.
Vua Bà chỉ tay vào Trường-bạch song hùng:
– Chúng ta ngừng tay thôi. Nhị vị tiên sinh đây nhận lời mời của Kinh-Nam vương về chơi Thiên-trường. Mà Kinh-Nam vương là sư đệ của ta. Thì ra chúng ta là người nhà cả. Đại-Việt có câu tục ngữ: Đánh nhau vỡ đầu rồi mới nhận họ. Hai phái Trường-bạch với Mê-linh bây giờ là bạn. Chúng ta thân thiện với nhau đi.
Thiệu-Thái cử năm đệ tử Tây-vu dẫn Trường-bạch song hùng với chư đệ tử hướng về phía Nam mà đi.
Trong khi vua Bà với Trường-bạch song hùng đối đáp, thì trận chiến vẫn diễn ra cực kỳ khốc liệt. Cả hai bên đều thiệt hại lớn lao: Kìa khu quân Tống vây đội sói, đội sói chỉ còn đâu mươi con, đang chiến đấu tuyệt vọng. Cạnh đó xác quân Tống ngổn ngang, thương binh đang rên la. Kìa, khu quân Tống vây đội hổ, đội hổ còn hơn hai chục con đang quay lưng lại với đội báo chống nhau với quân Tống. Khu này quân Tống chết quá nhiều, xác chết trải la liệt trên một bãi rộng. Nhưng khu voi với trâu thì quân Tống chưa làm chủ được. Trâu tuy không hung dữ, thiện chiến như voi, nhưng nhờ bọn Hổ-đói, Báo-mập, Gấu-lùn là những đứa trẻ điếc không sợ sấm, khi thì leo lên cây chỉ huy, khi thì bám hai tay vào hông trâu, mà ẩn thân dưới bụng trâu, thành ra quân Tống không hạ được một đứa nào cả. Khu này quân Việt Việt đang thắng thế.
Quân Tống quá đông, ào ạt vào trong chiến lũy, tràn ngập khắp nơi, chúng phóng hỏa đốt doanh trại, nhà cửa. Cả một vùng. lửa bốc cháy, khói đen ngập bầu trời trong tiếng thú gầm, tiếng trâu rống, tiếng trống thúc, tiếng lệnh kêu đến độ không ai có thể nghe được tiếng người bên cạnh nữa.
Quân Việt chiến đấu trong tuyệt vọng.
Bỗng quân Tống ở phía ngoài chiến lũy la hoảng lên, làm Yên Đạt phải quay lại nhìn. Bất giác y nổi gai ốc: Kị binh Đại-Việt xuất hiện thế như thác đổ, dàn thành một tuyến dài đánh từ Tây sang Đông, cắt đứt trận tuyến phía ngoài chiến lũy của Tống. Quân Tống chưa kịp phản ứng, thì kị binh lại từ Đông đánh quặt về Tây. Thế là quân Tống bị cắt làm ba đoạn, một đoạn trong chiến lũy, một đoạn bị đánh tan, và một đoạn về phía Phú-lương. Hiệu binh Thiên-trường đang đuổi theo cánh quân này. Yên Đạt nghiến răng tức giận:
– Tổ bà nó, cả hiệu Thiên-trường chưa quá vạn người, trong khi bên mình có tới ba vạn mà bỏ chạy như vịt thế kia thì nhục thực!
Nhưng Yên Đạt quên rằng trong ba vạn quân bỏ chạy đó, thì đa số thuộc các chỉ huy tân đằng hải từng tham chiến cuộc tấn công dò dẩm, cuộc đốt chiến lũy. Trong mỗi chỉ huy năm trăm người, phân nữa chết, một phần bị thương, nên nay chúng thấy quân mình bị cắt làm ba bởi đội kị binh mạnh như hùm như hổ, thì ba hồn bẩy vía thăng thiên, chúng bỏ chạy lấy thân.
Đúng theo binh pháp của Tống, khi bị đánh khúc giữa thì khúc đầu ở trong chiến lũy với khúc sau phải đánh kẹp lại, bao vây kị binh lại. Khốn nhưng quân Tống trong chiến lũy đang phải đối đầu với hai hiệu binh, trong đó hiệu Bổng-nhật cực kỳ thiện chiến tinh nhuệ. Còn khúc sau, thì lại hè nhau bỏ chạy về phía Phú-lương mất.
Kị binh Việt bỏ không đuổi khúc sau, mà đổi thế trận đánh bịt hậu tiền quân đang ở trong chiến lũy. Quân Tống kinh hoàng, hàng ngũ rối loạn, nhưng Yên Đạt là tướng tài. Y chia quân làm hai quay lưng lại với nhau mà chiến đấu trong tuyệt vọng. Y ra lệnh cho các tướng:
– Dù gì, ta cũng đông gấp ba chúng. Ta chỉ dơ tay là chiếm được chiến lũy. Tiến lên!
Trận chiến vẫn tiếp tục diễn ra.
Vua bà Bình-Dương nghĩ rất nhanh:
– Nếu để hai bên chém giết nhau, mình có diệt hết được mấy vạn quân Tống này thì cũng phải hy sinh cả vạn quân. Chi bằng ta tha cho chúng về Bắc ngạn Phú-lương, rồi trấn ở Nam ngạn. Với số binh tướng còn lại, Yên Đạt không thể vượt sông được nữa.
Bà ra lệnh đánh chiêng thu quân. Quân sĩ hai bên cùng ngừng chiến rồi lùi lại. Vua Bà thủng thẳng tiến lên xá Yên Đạt một xá:
– Yên tướng quân vẫn mạnh giỏi a! Nghĩ lại cuộc đời thực ngắn ngủi. Mới hôm nào chúng ta gặp nhau ở Biện-kinh, thế mà thoáng một cái đã mấy chục năm.
Lòng Yên Đạt rối như tơ vò:
– Giữa chúng ta là tướng của hai đội quân thù nghịch nhau, ý vua Bà muốn gì đây?
Vua Bà mỉm cười, ngài vận nội lực nói lớn:
– Tướng quân là một anh tài tinh hoa của Tống. Chư quân đều là những người có lòng son với xã tắc. Nhưng, tất cả bị đem sang xứ muỗi độc, nước độc này chỉ vì cái tham vọng điên rồ của Vương An-Thạch. Bàn cho thực phải, với Tân-pháp của y, nếu cứ thong thả thi hành, thì chỉ năm năm nữa nước sẽ giầu, binh sẽ mạnh vô cùng. Tống thiên tử chỉ việc ngồi trùm Hoa-hạ, ban phúc, ban lộc cho dân, thì giang sơn Đại-Tống trở thành giang sơn Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang. Các nước nhỏ như Đại-Việt phải khuất thân quy phục. Thế mà vì ngu tối, y xúi Hy-Ninh đế đem trăm vạn hùng binh sang đây. Nay trăm vạn không còn quá hai chục vạn, mà chư vị vẫn chỉ luẩn quẩn ở giải sông Cầu này. Nói đâu xa, tướng quân có mười lăm vạn binh, vượt sông xong mất bốn vạn, mà Đại-Việt chỉ mất có một vạn.
Bà chỉ vào Lý Đoan, Ngọc-Liên:
– Với cái chiến lũy nhỏ bé này, mà sau hai trận thăm dò, đốt chiến lũy; bên Đại-Việt không một người chết, chẳng ai bị thương mà tướng quân phải hy sinh đến hai vạn quân. Tướng quân sai Khúc Chẩn mang hai vạn binh triều về tái chiếm hậu cứ Phú-lương. Y bị con với dâu ta là Thiên-Thành, Cảnh-Long đánh tan. Bây giờ phía ngoài, trên vạn bị kị binh giết, ba vạn bỏ chạy về Phú-lương. Trong chiến lũy có ba vạn, nhưng chết hơn vạn rồi, phía sau bị kị binh đánh, phía trước bị hiệu Bổng-nhật, Trường-yên cản. Trường-bạch song hùng với chư đệ tử bỏ đi. Tướng quân nghĩ xem, liệu tướng quân có thể tiến về Thăng-long không? Huống hồ...
Vua Bà vẫy tay một cái, nỏ binh bắn lên trời một Lôi-tiễn. Lập tức xa xa tiếng trống thúc rộn ràng, tiếng trâu rống, tiếng quân reo vang dội. Bà mỉm cười:
– Tôi đã điều thêm hai hiệu binh Thanh-hóa, Nghệ-an về tiếp viện.
Bà ngừng lại cho Yên Đạt suy nghĩ:
– Tướng quân nổi tiếng là người thương yêu binh sĩ. Đằng nào thì cái mộng đánh Thăng-long của tướng quân cũng hóa ra hư ảo rồi. Tiến lên chỉ làm cho binh tướng chết vô ích mà thôi. Vậy tốt hơn hết là bảo vệ lấy chủ lực. Vậy nếu tướng quân muốn, tôi sẽ mở vòng vây cho tướng quân, để tướng quân rút về Phú-lương an toàn. Không biết tướng quân nghĩ sao?
– Thế còn quân của Thân Cảnh-Long chặn đường về Tống?
Yên Đạt đặt vấn đề: Liệu vua Bà có hứa rằng mở vòng vây, cung cấp lương thảo cho chúng tôi trên đường rút quân không?
– Tôi hứa!
Vua Bà vẫy tay, một nữ binh chạy lại gần, ngài trao cho nữ binh này một binh phù:
– Người đem ra ngoài trao cho Vũ-kị đại tướng quân nói rằng có lệnh của ta, mở đường cho quân Thiên-triều lui về.
Yên Đạt nghe vua bà Bình-Dương nói mà muốn nổi đóa. Bởi bà sai mở đường cho y rút quân, thì rõ ràng y bị thua, bị nhục rồi, mà bà lại dùng chữ « Quân Thiên-triều » thì là điều diễu cợt. Nhưng y phải nuốt giận.
Nữ binh cầm binh phù hiên ngang đi qua trận của quân « Thiên-triều », ra ngoài chiến lũy trao cho Hà Mai-Việt. Lập tức kị binh lùi lại dàn thành hàng dài thăm thẳm dọc con đường đi Phú-lương. Yên Đạt phất tay. Quân Tống vác xác đồng đội, vác thương binh, từ từ rời khỏi chiến lũy. Còn y, tay y cầm kiếm cùng đội thân binh đứng cản hậu.
Trong khi quân Tống rời khỏi chiến lũy, thì hai hiệu Bổng-nhật, Trường-yên cũng tập trung lại. Lý Đoan nói với tướng chỉ huy hiệu Trường-yên:
– Bọn Tống xảo quyệt không chừng, tôi phải đem hiệu Bổng-nhật chiếm lại chiến lũy Phú-lương, củng cố lại hệ thống phòng thủ. Vậy huynh trấn tại đây thay tôi.
Hầu phất cờ ra lệnh. Sau trận chiến, hiệu Bổng-nhật tuy có bị tổn thất, nhưng đây là đạo quân tinh nhuệ, thiện chiến bậc nhất, nên tinh thần vẫn hùng tráng. Duy các đội thú binh thì gần như tan rã hết. Mặc dù có kị binh dàn hai bên đường, hiệu Thiên-trường dàn ra ba khu đất trống; nhưng hầu ra lệnh cho hiệu Bổng-nhật đi sau đội trâu dàn trận bám sát quân Tống. Đội của Báo-mập đi bên trái với sư một, đoàn này đo Hùng Trí, Âu Lam chỉ huy. Đội của Gấu-lùn đi bên phải với sư hai, đoàn này do Hùng Tín, Âu Hồng chỉ huy. Đội của Hổ-đói đi trên đường với sư ba, đoàn này do quận chúa Ngọc-Liên chỉ huy. Vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái cùng các cao thủ phái Mê-linh theo sau đoàn này.
Lý Đoan hỏi vua bà Bình-Dương:
– Tấu điện hạ. Ban nãy điện hạ nói với Yên Đạt rằng ta có hai hiệu Thanh-hóa, Nghệ-an tiếp viện. Vậy hai hiệu đó đâu?
Vua Bà nói nhỏ vào tai hầu:
– Làm gì mà điều được hai hiệu đó đến đây mau thế? Trước khi đến đây, ta ban lệnh cho các xã tụ tập hoàng nam, trâu bò, trống chiêng lại; đợi khi có lệnh thì cho hoàng nam reo, trống chiêng thúc, rúc tù và cho trâu bò rống để làm kế hư binh.
Khoảng hơn nửa giờ thì tên quân Tống cuối cùng đã vượt phù kiều sang Bắc ngạn Phú-lương. Yên Đạt sợ quân Việt đuổi theo, y sai cắt phù kiều. Trong khi hiệu Bổng-nhật dàn ra đóng dọc chiến lũy thì vua Bà truyền hiệu Thiên-trường vào các làng cùng với hoàng nam, hoàng nữ đẵn tre củng cố lại các hàng rào.
Chợt Vũ-kị đại tướng quân la lớn:
– Đoan đệ, Liên muội, sao rồi?
Lý Đoan, Ngọc-Liên đang nằm gục trên lưng voi. Ông tung mình lên bành voi Lý Đoan đỡ hầu đem xuống. Trong khi vua bà Bình-Dương đỡ Ngọc-Liên. Máu trong miệng hai người chảy dài trên môi, trên cổ. Cả hai người chỉ còn thoi thóp thở.
Phò mã Thân Thiệu-Thái nắm ấy tay Lý Đoan, vua bà Bình-Dương nắm lấy tay Ngọc-Liên. Cả hai dồn chân khí ra để trị thương.
Hà Mai-Việt với Long-biên ngũ hùng thân với nhau như chân tay, ông hỏi viên tướng cận vệ của Lý Đoan:
– Quân hầu với quận chúa bị thương lúc nào vậy?
– Quận chúa bị Trường-bạch song hùng đánh trúng một chưởng bay tung đi đến hơn hai trượng. Nữ binh cứu được đem vào chiến lũy để dưỡng thương. Nhưng nằm nghe tiếng trống thúc, tiếng quân reo, quận chúa lấy khăn lau máu trên người, rồi gượng lên voi chỉ huy quân chống với giặc. Còn quân hầu thì bị trúng một Huyền-âm chưởng, nhưng may nhờ có hai con trâu đứng trước, nên chỉ bị nội thương nặng. Hầu giả vớ như không bị thương, gượng lên mình trâu điều quân.
Một lát sau, Lý Đoan tỉnh dậy trước, hầu ọe một tiếng, mửa ra hai bụm máu rồi hỏi trong cơn mơ mơ tỉnh tỉnh:
– Hà đại ca! Ngọc-Liên đâu rồi?
Quận chúa thở phều phào:
– Em đây. Anh có sao không?
– Anh hỏng mất rồi! Tạng phủ nát hết thì sống sao được? Còn em, em ra sao?
– Đau đớn khắp người, sức lực mất hết.
Hầu gượng ngồi dậy, rút trong bọc ra một tấm lụa, đó là tờ biểu hầu cùng quận chúa viết để dâng lên Linh-Nhân hoàng thái hậu, nhưng chưa kịp gửi đi. Bây giờ trong lúc âm dương cách trở, hầu trao mảnh lụa cho Hà Mai-Việt:
– Đại ca! Hai đứa chúng em đã cầm chắc cái chết trong tay, nên viết tờ biểu này dâng lên Thái-hậu. Vậy khi chúng em chết rồi, đại ca sai người đem về triều và tâu thêm rằng :
« Đứa em bất nghĩa, giữa đường nằm xuống, không tiếp tục cùng người chị bảo vệ đất nước. Mong được chị tha thứ cho ».
Vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái muốn nói mấy câu, nhưng hai vị đang dồn hết chân khí để giữ tính mệnh vợ chồng Lý Đoan, nên không thể mở miệng. Vì mở miệng ra, chân khí yếu đi, e tính mệnh hai người lâm nguy.
Hầu quơ tay nắm lấy vai quận chúa:
– Ngọc-Liên, trong tám năm chúng mình làm vợ chồng, tâm đầu, ý hiệp. Chưa bao giờ chúng mình nhăn mặt, nói nặng với nhau một câu.
– Nhưng tiếc quá!
– Em tiếc gì? Mình đã có với nhau hai mặt con, như vậy không đủ ư?
– Anh có nhớ không? Chúng mình thường mơ rằng sau khi hết giặc, chúng mình xin Thái-hậu cho phép, rồi ruổi ngựa đi thăm tất cả thắng cảnh của đất nước. Ngồi trên núi, bên suối, ven sông, em sẽ hát cho anh nghe.
Nói rồi quận chúa cất tếng hát. Đó là bài hát của vùng Kinh-Bắc mà quận chúa mới học được. Lúc đầu tiếng hát rất cao, rất trong, nhưng được ba câu thì tiếng hát rời rạc, rồi từ từ im hẳn. Hầu kinh hoảng gọi lớn:
– Ngọc-Liên! Em ra sao?
Hẫu gượng ngồi dậy nghiến răng bế bổng quận chúa vào lòng rồi nói trong hơi thở:
– Sống chúng ta... yêu nhau..., giữ nước... như chim liền cánh. Chết chúng ta chết bên...
Chữ « nhau » chưa ra khỏi miệng thì hầu ngã xuống.
Đám trẻ mục đồng hét lên:
– Quân hầu! Quân hầu là anh bọn em. Chị Ngọc-Liên, chị là tiên nữ, chị không thể chết được!
Bọn trẻ khóc rống lên thảm thiết. Để cho chúng khóc một lúc vơi nước mắt rồi, vua bà Bình-Dương an ủi chúng:
– Anh, chị của các con không chết đâu!
– Tâu bà, rõ ràng anh chị ấy chết rồi đây này!
– Anh chị ấy xuất hồn rời khỏi xác, rồi về với vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng. Các con không nên khóc. Khóc là hèn nhát, không phải con cháu thánh Gióng, vua Đinh.
Bọn trẻ nín khóc liền.
Ghi chú,
Hoài-hóa thượng tướng quân Trực-tâm hầu Lý Đoan tuẫn quốc năm 26 tuổi. Thiên-y, Đại-từ, Liên-hoa nhu mẫn quận chúa Trần Ngọc-Liên tuẫn quốc năm 25 tuổi. Sau khi hết giặc, triều đình nghị công truy phong cho ngài chức tước như sau: Thiên-y, Ưu-dũng, Chí-nhân đại vương. Quận chúa được phong Nam-thiên, Liên-hoa, Đoan-nhu công chúa. Truyền lập đền thờ. Trải qua 918 năm, đến nay (1095) đền thờ của ngài vẫn còn tại làng Cẩm-chàng, xã Bồng-lai, huyện Quế-võ, tỉnh Hà-Bắc. Độc giả muốn thâm cứu thêm về cuộc đời anh hùng của ngài, xin xem bài tựa NQSH quyển 1, phần 7.1.4.

Tại điện Uy-viễn Thăng-long, Đại-Việt
Ngày hai mươi chín tháng giêng, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng năm thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt; bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).
Triều đình họp tinh-triều. Vì tầm quan trọng của xã-tắc, nên Linh-Nhân hoàng thái hậu còn mời thêm các đại tôn sư võ phái tham dự.
Lễ nghi tất.
Quan Đại-tư-mã Lý Thường-Kiệt tường trình về tình hình chiến cuộc Tống, Việt: Từ sau ba trận đánh ngày 22 tháng giêng đến giờ thì vua bà Bình-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái trấn tại chiến lũy Phú-lương. Công-chúa Bảo-Hòa, đô đốc Trần An, Trần Hải trấn tại chiến lũy Như-nguyệt. U-bon vương Lê Văn với công chúa Nong-Nụt trấn tại chiến lũy Vạn-xuân. Suốt bẩy ngày, không thấy Tống có một hoạt động nào đáng kể. Ngược lại, Đại-Việt đã lấy quân ở các hiệu địa phương tổ chức, bổ xung cho mười một hiệu Thiên-tử binh bị tổn thất.
Ông kết luận:
– Tính chung từ khi quân Tống phạm cảnh đến giờ tổn thất về tướng của ta quá nặng nề. Tổng cộng 36 vị. Nhưng về quân thì mất chưa quá năm vạn.
Ông hướng vào cử tọa:
– Để duyệt xét tình hình, Thái-hậu tuyên chỉ thiết tinh triều, hầu đưa ra phương lược hợp thời. Xin chư vị tôn trưởng đừng tiếc công chỉ dạy.
Quốc-trượng Trần Tự-An đưa mắt nhìn quốc mẫu Thanh-Mai ngồi đối diện với ông, rồi nói:
– Khi một cuộc chiến diễn ra, thì đôi bên đều phải chấp nhận tổn thất. Đối với vấn đề tổn thất, có hai điều quan trọng. Một là tổn thất của ta với Tống, bên nào nặng hơn? Hai là dù ta tổn thất nặng, Tống tổn thất nhẹ cũng không đáng quan tâm. Điều đáng quan tâm là giữa ta với Tống, bên nào đạt được mục đích? Bên nào còn tiềm lực chiến đấu?
Nguyên-soái Thường-Kiệt chắp tay xá Tự-An:
– Thưa thái sư phụ, đệ tử xin so sánh tổn thất ta với Tống. Về tướng, ta mất ba tướng ở cấp bộ tối cao là Trung-Thành, Tín-Nghĩa vương với phò mã Hoàng-Kiện; mất năm tướng ở cấp bộ cao là công chúa Động-Thiên, Thiên-Ninh, Dư Phi, Nguyễn Căn, Bùi Hoàng-Quan; mất hai mươi tám tướng ở cấp bộ trung là nhị vị vương phi Trung-Thành, Tín-Nghĩa, công chúa Ngọc-Huệ, Thanh-Thảo, Long-biên ngũ hùng với năm vị phu nhân, Tây-hồ thất kiệt với bẩy vị phu nhân. So với Tống thì năm tướng ở cấp bộ tối cao bị bắt, hoặc được ân xá, hoặc được trao cho Kinh-Nam vương; mười tám tướng ở cấp bộ cao bị giết, hoặc bị bắt rồi được ân xá hay trao cho Kinh-Nam vương. Bẩy mươi hai tướng ở cấp bộ trung bị giết, bị bắt rồi trao cho Kinh-Nam vương.
– Bây giờ ta xét về khả năng tham chiến của tướng đôi bên.
Vua bà Bình-Dương tiếp lời Thường-Kiệt:
– Tất cả tôn sư võ học, cao thủ, tướng Tống bị ta bắt, rồi thả ra, đều bị nghi ngờ, không được nắm binh quyền nữa. Hiện các tướng tối cao của Tống chỉ còn Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Khúc Chẩn, Ôn Cảo. Ngược lại các tướng tối cao của ta hiện còn rất nhiều: Côi-sơn tam anh; đại đô đốc Lý Kế-Nguyên, bốn đô đốc thủy quân; U-bon vương, công chúa Nong-Nụt; tiên nương Bảo-Hòa; Tôn Mạnh, Thanh-Nguyên; Cảnh-Long, Thiên-Thành; phò mã Thiệu-Thái với tôi; trong triều còn Hoàng-thái hậu, Thường-Kiệt. Các tướng bậc trung thì có Thần-vũ thập anh, Kim-cương thập bát. Tóm lại về tướng, ta vẫn còn một lực lượng hùng hậu gấp bội Tống. Về tôn sư võ học, ta chưa bị tổn thất lấy một người. Trong khi bên Tống thì Thập-đại thần tăng Thiếu-lâm, Trường-bạch song hùng không tham dự vào cuộc chiến nữa. Hoa-sơn tứ lão bị hai hòa thượng Mộc-tồn, Viên-Chiếu dồn thuốc vào người, bị bắt mê man chưa tỉnh. Liêu-Đông tam ma bị hòa thượng Mộc-tồn bắt trao cho Kinh-Nam vương. Về phương diện cao thủ, ta còn đầy đủ tinh lực, hơn hẳn Tống.
– Đa tạ sư phụ.
Linh-Nhân hoàng thái hậu hướng vua bà Bình-Dương xá một xá: Còn về quân, ta bị mất hoàn toàn ba hiệu Thiên-tử binh ở Như-nguyệt, Phú-lương, đã được tái lập. Bốn hiệu bị tổn thất nặng, đã được trang bị, bổ xung. Nay quân khí, quân thế lại như xưa. Thủy quân ta còn toàn vẹn. Kị binh ta không bị tổn thất, mà lại tăng thêm, nhờ bắt được ngựa Tống ở Cổ-pháp, ở trận Nham-biền. Trong khi thủy quân Tống không còn; kị binh gần như chỉ còn một sư, mà ngựa thì gầy ốm, binh tướng thì mất hế ý chí chiến đấu. Duy bộ binh thì phải đợi tin tức của sư bá Mộc-tồn với sư phụ mới biết chắc được.
Đến đó, viên tá lĩnh chỉ huy Ưng-binh của Khu-mật viện bước vào trao cho nguyên soái Thường-Kiệt một ống đựng mật thư. Ông mở thư ra đọc rồi hướng Linh-Nhân hoàng thái hậu:
– Tâu Thái-hậu, tin của Mộc-tồn hòa thượng.
Ông đọc lớn:
« ...Từ sau trận đánh ngày 22, binh Tống thiệt hại quá nặng nề. Thứ nhất mặt Phú-lương, chỉ còn ba vạn quân triều, năm vạn tân-đằng-hải. Yên Đạt, Khúc Chẩn không đủ sức đánh Đâu-đỉnh, khai thông con đường tiếp tế lương thảo từ Bắc-biên xuống. Tại Bắc Như-nguyệt, mười đạo binh mang số 10 tới 19 trực thuộc Triệu Tiết bị tan rã hoàn toàn, các tướng chỉ huy, các sư trưởng, lữ trưởng hầu hết tử thương; Tiết gom đám tàn quân lại tái lập được ba đạo. Y sai quân đắp chiến lũy phòng quân Việt đổ bộ. Tại tổng hành doanh, sau trận đột kích, bắn Lôi-tiễn đêm 22, đạo quân Tả Đệ-nhất, Tả Đệ-nhị bị tử thương một nửa, đạo quân Tả Đệ-tam chỉ còn hơn trăm người; kị binh còn đâu một sư. Cộng chung tân-đằng-hải còn hơn mười lăm vạn, quân triều mười vạn. Quách Qùy ra lệnh cho binh tướng củng cố hàng rào thực chắc cố thủ, vì sợ ta tấn công. Có tin tức gì sẽ báo sau... »
Linh-Nhân hoàng thái hậu đứng dậy, trong thái độ cực kỳ nghiêm trang, rồi cung tay:
– Kính Quốc-trượng, kính sư phụ, kính Quốc-mẫu, kính chư vị tôn trưởng, chư vị đại thần, tướng lĩnh.
Trong điện Uy-viễn có đến hơn trăm người, mà im phăng phắc.
– Yên Đạt, Triệu Tiết đắp lũy vì sợ ta đổ quân lên đánh. Quách Quỳ củng cố doanh trại vì sợ ta tiến quân từ Vạn-xuân, Nham-biền về. Như vậy trong thâm tâm chúng, chúng tự biết chúng yếu, ta mạnh; chúng không thể vượt sông tấn công ta. Trong khi ta dư khả năng vượt sông đánh chúng.
Cử tọa đều đồng ý với Thái-hậu. Ngài tiếp:
– Trước tình hình ta, tình hình địch như vậy, xin Nguyên-soái cho biết mình phải đối phó ra sao?
Thường-Kiệt tâu:
– Tâu thái-hậu, thần xin đưa ra ba phương lược, xin Thái-hậu chọn lấy một.
– Nguyên-soái cứ tâu.
– Phương lược thứ nhất là dùng sức mạnh quét sạch bọn Tống khỏi Đại-Việt trong vòng ba ngày. Phương-lược thứ nhì là đuổi bọn Tống rời khỏi Đại-Việt trong vòng ba tháng. Phương-lược thứ ba là không cần đuổi, để chúng tự rút khỏi Đại-Việt trong vòng một năm.
– Nguyên soái cho bết chi tiết phương lựợc thứ nhất?
– Hiện tại Phú-lương, Như-nguyệt, Tống đóng ở Bắc ngạn, ta đóng ở Nam ngạn. Duy tại Vạn-xuân, Nham-biền thì ta đóng cả hai bên bờ, đây là mũi dùi ta uy hiếp tổng hành doanh Quách Quỳ. Ta cần điều thêm hạm đội Động-đình từ biển Đông về Phú-lương. Ta tấn công Tống bằng ba mũi. Tại Nham-biền, U-bon vương tiến về đánh Tổng hành dinh Quách Quỳ. Tại Phú-lương, vua bà Binh-Dương, phò mã Thân Thiệu-Thái dùng hạm đội Động-đình chở quân vượt sông đánh trước mặt Yên Đạt; công chúa Thiên Thành, phò mã Thân Cảnh-Long từ Đâu-đỉnh đánh vào sau lưng y. Tại Như-nguyệt, sư phụ thần dùng hai hạm đội Bạch-đằng, Thần-phù chở quân vượt sông tấn công Triệu Tiết; lại sai chim ưng chuyển thư cho công chúa Côi-sơn Thanh-Nguyên, phò mã Tôn-Mạnh, đô thống Lý Tam, phu nhân Mai-Tam, đem hiệu Quảng-vũ, Kinh-Bắc tiến chiếm Chi-lăng đánh vào sau lưng tổng hành doanh Quách Quỳ. Như vậy chỉ cần tấn công liên tiếp ba ngày, ta diệt gọn đám binh tướng Tống. Phương lược này mau chóng, sẽ làm rúng động Trung-nguyên, nhưng phải chấp nhận hy sinh khá nhiều tướng sĩ.
Chư tướng suýt xoa, tỏ vẻ hoan nghênh phương lược này.
– Phương-lược thứ nhì là: Cứ năm ngày, một tuần, ta đổ bộ từng toán nhỏ lên tấn công quân Tống trong mấy giờ rồi lại rút đi, làm cho Tống ăn không ngon, ngủ không yên, mệt mỏi. Một mặt thư cho công chúa Côi-sơn tiến chiếm Quyết-lý; đô thống Lý Tam phục binh chặn đánh các đoàn tiếp tến, chiếm Chi-lăng rồi đóng chặn đường tiếp tế lương thảo. Thế bắt buộc Quách Quỳ phải dùng quân nhổ hai nút chặn này, khiến y hao binh tổn tướng rất nhiều. Sau đó ta mới rút vào rừng, mở đường cho chúng rút lui. Sang tháng ba, khí hậu nóng nực, binh tướng, lừa ngựa Tống vốn sống ở miền Bắc đã quen, nay sang ta không hợp thủy thổ sinh bệnh. Bấy giờ ta lại tấn công như phương lược một, ắt chúng phải bỏ chạy. Một mặt ta truy kích, một mặt ta thư cho công chúa Côi-sơn, đô thống Lý Tam phục binh đánh cắt tàn quân chúng. Phương lược này tuy hơi lâu, nhưng đỡ phải hy sinh nhân mạng.
Các văn quan, võ tướng cùng gật đầu, có vẻ tán thành.
– Phương lược thứ ba là: Một mặt ta cứ đồn trú như hiện tại, ngày ngày thao luyện sĩ tốt, trong khi đó ta truyền báo cho dân chúng biết giặc đã yên, đâu về đó, yên ổn làm ăn. Một mặt thư cho công chúa Thiên-Thành, phò mã Cảnh-Long tái chiếm tất cả các trang động Bắc-biên; công chúa Côi-sơn, đô thống Lý Tam thay phiên nhau đánh cướp các đoàn tiếp tế lương bổng. Quân Tống trải qua mùa hè, mùa thu, lam khí giết đi ít nhất một nửa. Bấy giờ ta sai sứ sang Biện-kinh, lời lẽ nhún nhường xin « tạ tội » về việc ta đem quân đánh Ung, Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch châu; lại xin tiến cống thần phục như xưa. Hy-Ninh cũng như Tống triều được vuốt ve tự ái, sẽ ban lệnh cho Quỳ rút binh. Phương lược này tuy kéo dài, nhưng không phải dùng đến gươm đao nhiều.
Các văn quan hân hoan, tỏ vẻ đồng ý. Trong khi các võ tướng lại lắc đầu, biểu lộ bất phục.
Ghi chú,
Trong suốt năm nghìn năm lịch sử, các nhà chỉ đạo quân sự Việt luôn luôn xử dụng khí hậu, phong thổ làm vũ khí chống lại cuộc xâm lăng của Trung-quốc. Quân Trung-quốc sang đánh Đại-Việt đa số là người phương Bắc, sống ở vùng khí hậu lạnh, khi sang đất Việt thuộc vùng nhiệt đới, họ không chịu nổi cái thấp nhiệt. Do đó sinh một số bệnh vùng nhiệt đới như như cảm cúm, nhiễm trùng đường hô hấp, tiêu chảy, dịch tả, sốt rét ngã nước. Trong các bệnh trên, thì ba chứng sốt rét ngã nước, dịch tả và tiêu chảy là ba vũ khí làm cho địch quân kinh hồn táng đởm nhất.
Hồi nhỏ đọc sử Hoa-Việt, tôi chỉ có một ý niệm sơ sài về vấn đề này. Nay, sau hai mươi lăm năm hành nghề thầy thuốc ở Pháp, tôi mới biết rõ cái khủng khiếp về ba chứng bệnh trên. Hầu hết thân chủ của tôi trước khi du lịch VN, đều được tôi chích ngừa dịch tả (Vaccin cholérique), cúm (Vaccin grippal), lại bắt uống thuốc ngừa sốt rét ngã nước. Ấy vậy mà tới 85% vẫn bị đau bụng tiêu chảy. Cho nên khi thân chủ lên đường, tôi còn bắt mang theo thuốc đau bụng do vi trùng gây ra như Immodium (lopéramide), ercéfuryl (nifuroxazide). Còn những thân chủ bướng bỉnh, cho rằng cơ thể mình da bằng thép, thân bằng đồng, không chịu chích ngừa, mang thuốc theo... thì khỏi nói; trong khi du lịch bị Tào Tháo đuổi dài dài, lúc về bị sốt rét ngã nước da vàng ủng, bụng chướng, phải đi nghỉ ít ngày tại bệnh viện.
Muỗi VN khác muỗi những nơi khác là chúng ham của lạ. Trong chuyến công tác cho Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP), chúng tôi gồm giáo-sư J.Fr. Hadzam (Hoa-kỳ), Tarentino (Ý), Laurence Martinet (Pháp). Hadzam phát biểu ý kiến : « Muỗi ở nước mày thân hình nó nhỏ mà khi đốt thì đau như ong châm. Nó ham của lạ, dữ hơn bò cạp. Hơn nữa muỗi Mỹ thường nó đậu lên da, ngửi ngửi rồi mới đốt. Còn muỗi Việt, thì nó lao đến như hỏa tiễn SAM 3... Không hiểu sao, rõ ràng tao ngồi bên ba người bạn Việt, mà nó cứ nhè tao nó đốt, còn ba người Việt thì nó lại bỏ rơi ». Giáo sư Martinet cũng đồng ý : « Muỗi Việt thích đốt người ngoại quốc thì phải ». Tôi trêu : « Không phải nó ham của lạ đâu, mà nó chống Mỹ, chống thực dân cứu nước đó ». Giáo sư Tarentino nổi cáu : « Tao là người Ý, tao đâu có liên hệ gì tới Mỹ, tới Pháp, mà nó cũng làm thịt tao rất kỹ ». Qua câu truyện trên khiến tôi chú ý: Muỗi Việt thích đốt người lạ. Tôi đã hỏi trên 200 Việt kiều về thăm nhà, họ đều cho biết, khi họ ngồi bên người thân, thì muỗi thích xơi thịt Việt kiều hơn là thịt người trong nước.
Một tài liệu của cục Quân-y Cộng-hòa Nhân-dân Trung-quốc cho biết, trong cuộc hành quân « dạy VN bài học » của Đặng Tiểu-Bình (1978), có tới 9875 Hồng-quân bị bệnh sốt rét do muỗi đốt, và 34.548 người bị đau bụng, tiêu chảy.
Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:
– Xin các vị cho biết tôn ý?
Các văn quan, võ tướng bàn luận phân vân tới hơn giờ, mà chưa ngã ngũ. Anh-vũ Chiêu-thắng hoàng đế tuy tuổi mới mười hai, vì ở vào vị thế bất đắc dĩ phải dự bàn quốc sự, nên đã khôn trước tuổi rất nhiều. Nhà vua tuyên chỉ:
– Trẫm thấy phương lựợc thứ nhất tỏ ra được sức mạnh của ta. Từ nay trở đi, vĩnh viễn Tống ê càng, không dám bàn đến việc đem quân đánh ta nữa. Ta cũng chẳng phải tiến cống, nhận sắc phong nữa. Nhưng ta giết được mười lăm vạn tân-đằng-hải, mười vạn quân triều của Tống, ít ra ta cũng phải thiệt hại ba vạn người. Trẫm thấy ghê quá, không nỡ!
Cử tọa đều nghĩ thầm:
– Ông vua con này quả là đấng nhân từ.
Nhà vua tiếp:
– Phương-lược thứ nhì tương đối thoả được tự ái. Nhưng khi ta đuổi Quỳ về bên kia biên giới rồi có ở yên với y được không? Y hiện lĩnh chức Tuyên-huy Nam-viện sự, quản lĩnh hết các châu quận Nam thùy. Y có thể vét hết binh tướng vùng Nam Trường-giang sang phục thù. Ta lại phải chống lại, vừa hao tiền tốn của, vừa mất nhiều người hy sinh.
Nhà vua đứng dậy nhìn cử tọa:
– Phương lược thứa ba, thì ta phải nhún mình một chút. Nhưng biết đâu Tống chẳng cho rằng ta còn sợ chúng, rồi lại hoạnh họe lôi thôi? Phương lược này muôn nghìn lần không dùng được.
Nhà vua hướng Lý Kế-Nguyên:
– Hôm qua, thầy của trẫm từ biển đông về Thăng-long có vào hoàng thành dạy dỗ trẫm; nhân đó trẫm đã hội ý với thầy, rồi đưa ra một phương lược. Phương lược này bao gồm tinh hoa của ba phương lược mà nguyên soái vừa tâu. Xin thầy trình cho cử tọa nghe xem có gì cần sửa đổi không?
Đại đô đốc Lý Kế-Nguyên đứng dậy cung tay:
– Tâu thái hậu, tâu bệ hạ, thần xin đưa ra phương lược bao gồm tinh hoa của ba phương lược mà nguyên soái đã tâu. Phương lược này gồm năm bước.
Ông đưa mắt nhìn nguyên soái Thường-Kiệt:
– Bước thứ nhất là: Giết tinh thần của tướng sĩ Tống. Bước này ta dùng binh lực năm mũi. Mũi thứ nhất, U-bon vương Lê Văn đem quân từ Vạn-xuân tiến tới gần tống hành doanh Quách Qùy đóng quân, để đe dọa y. Mũi thứ nhì, lệnh cho công chúa Côi-sơn chiếm Quyết-lý, đô thống Lý Tam chiếm Chi-lăng, công chúa Thiên-Thành chiếm Lạng-châu. Mũi thứ ba, Đợi Quỳ sai Yên Đạt, Khúc Chẩn tiến quân tái chiếm ải Quyết lý, Chi-lăng, Lạng châu để bảo vệ đường tiếp tế, bấy giờ ta cho hạm đội Động-đình tốc đến Phú-lương. Vua bà Bình-Dương dùng hạm đội Động-đình chở quân quân vượt sông chiếm Đâu đỉnh, ép bên trái tổng hành doanh Tống. Mũi thứ tư, tiên nương Bảo-Hòa ép Quách Quỳ ở phía Như-nguyệt. Mũi thứ năm, ta dùng thủy quân tái chiếm Ngọc-sơn, Đông-triều. Bước này ước khoảng 20 ngày.
Các võ tướng đều vỗ tay hoan hô.
– Bước thứ nhì: Sát nhất nhân vạn nhân cu (Giết một người vạn người sợ). Ta đem những tên tù binh nguyên là tướng, binh Tống ác độc, từng cướp bóc, giết người, hoặc những tên phản quốc Việt... ra xử tử trên sàn chiến hạm. Trước khi xử, ta bắc loa báo cho binh tướng Tống biết trước địa điểm. Rồi tới giờ hành quyết, ta cho chiến hạm ra giữa sông, để binh tướng Tống nhìn rõ. Bước này có thể thi hành cùng một lúc với bước thứ nhất, nhưng kéo dài một tháng thay vì hai mươi ngày.
Nghe đến đây, Linh-Nhân hoàng thái hậu đưa mắt nhìn Côi-sơn tam với nhà vua rồi mỉm cười. Tam-anh, nhà vua cười theo. Trong nụ cười đó năm vị ngụ ý:
– Đây là ý kiến của nhà vua, chứ một Nho sĩ như Lý Kế-Nguyên không bao giờ nghĩ ra lối trừng phạt như vậy. Mà ý kiến này của nhà vua thì lại do sư phụ là Côi-sơn tam anh truyền cho.
Quan Thái-phó Quách Sĩ-An xoa tay vao nhau khen ngợi:
– Lối trừng phạt này vừa cò ý nhắn nhủ với người Tống: Chúng ta bắt được tù binh thì nuôi nấng, đối xử tử tế, sau đó đem trả về. Nhưng bọn ác bá thì bị trừng trị. Khi quân Tống hồi hương, chúng thuật lại với bạn bè, họ hàng, từ nay bọn người Hoa thù nghịch với người Việt phải ngừng lại. Hơn nữa, khi ta xử tử binh tướng Tống, ắt quân Tống xót tình đồng đội muốn vượt sông trả thù, mà Quách Quỳ không cho, thì chúng cảm thấy nhục nhã tự ty; cuối cùng đưa đến không còn tinh thần chiến đấu.
Lý Kế-Nguyên tiếp:
-Bước thứ ba là:Mật ngọt chết ruồi.Cử sứ sang Biện-kinh, dùng lời lẽ khiêm nhượng đổ lỗi cho bọn đại thần Nam biên gây sự, nên Đại-Việt phải đánh Ung, Khâm, Liêm để tự vệ. Nay trăm vạn quân Thiên-triều sang bị lam chưởng mà chết mất hai phần ba rồi; nếu để lâu, e chết hết. Vậy xin Thiên-triều cho rút binh, Đại-Việt sẽ sai sứ sang tiến cống hàng năm như cũ. Những khê động nào theo Tống thì vẫn để thuộc Tống. Như vậy tự ái bọn chủ chiến triều Hy-Ninh được xoa dịu, bọn chủ hòa được toại ý, ắt chúng sẽ tâu xin cho rút binh. Bước này ước khoảng hai tháng.
Đô-thống Hùng Nhân nhăn mặt:
– Thưa quan Thái-phó, mình... mình chịu mất đất cho Tống ư?
Kế-Nguyên phì cười:
– Đâu có! Khi Quách Quỳ rút quân, thì ta cho quân theo bén gót. Đợi đại quân y về tới Ung-châu, lập tức ta tiến quân chiếm lại những trang động bị Tống lấn. Bấy giờ Quỳ không còn quân, không còn lương để trở lại đánh ta nữa. Ví dù y muốn tiến quân sang, lại phải tâu về triều, thời gian của sứ giả di về mất ít nhất bốn tháng. Trong bốn tháng đó, ta đã tổ chức lại các trang động rồi, dễ gì y dám lao đầu vào?
Nhà vua tuyên chỉ:
– Phương lược ba bước này vừa đỡ tốn xương máu, vừa giữ được hoà khí với triều đình Tống, vừa giữ được uy thế của ta, lại làm cho Tống kinh sợ. Từ nay và mãi mãi họ không dám bàn chuyện đánh ta nữa.
Linh-Nhân hoàng thái hậu tuyên chỉ:
– Để có thể chuyển đại quân sang đánh Đại-Việt, Hy-Ninh với An-Thạch phải cắt đất cho Hạ, cho Liêu, cầu hòa hầu dồn hết binh hùng, tướng mạnh của Tây-thùy, Bắc-thùy sang đánh ta. Hy-Ninh hy vọng bọn Quách Quỳ chiếm được nước ta trong một tháng, rồi lại đem quân về giữ Bắc-thùy, Tây-thùy, mang theo mấy chục tù hàng binh của ta. Nay bao nhiêu tướng giỏi, binh tinh nhuệ bị giết hết, chắc chắn Liêu, Hạ lại gây sự. Mà than ôi! Tống không còn tinh lực phòng vệ nữa. Từ nay, ta không sợ Tống nữa; trái lại Tống phải sợ ta. Theo ước tính của cô phụ này, e không bao lâu nữa Tống sẽ bị Liêu chiếm. Bấy giờ có khi ta phải giúp Tống giữ nước trong thế yếu, hơn là diệt Tống rồi phải chống với Liêu hùng mạnh.
Ghi chú,
Kiến giải của Linh-Nhân hoàng thái hậu thực chính xác. Niên hiệu Tĩnh-Khang nguyên niên đời vua Khâm-tông nhà Tống, bên Đại-Việt là niên hiệu Thiên-phù Duệ-vũ thứ bẩy đời vua Lý Nhân-tông (Bính-Ngọ, DL.1126) tức 49 năm sau; quân Kim đánh vào Biện-kinh bắt hai vua Tống là Huy-tông và Khâm-tông đem về Bắc. Con của Khâm-tông là Triệu Cấu chạy xuống Nam, tái lập triều Tống, tức Nam Tống, ở ngôi được 36 năm, sau khi băng được tôn miếu hiệu là Cao-tông.
Tại tổng hành doanh « An-Nam đạo hành doanh mã bộ quân đô tổng quảm chiêu thảo sứ kiêm tuyên phủ sứ chư lộ Kinh-châu, Hồ-Nam, Quảng-Đông, Quảng Tây »
Ngày 5 tháng hai, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, bên Trung-nguyên là niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Đinh-Tỵ, DL.1077).
Quách Quỳ triệu tập chư tướng bàn phương lược đối phó với tình hình. Các tướng Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ, Khúc Chẩn, Đào Bật, Trương Thế-Cự... đều hiện diện.
Ôn Cảo tường trình:
– Ngày mùng một tháng hai vừa qua, Lý Càn-Đức sai sứ sang Biện-kinh tạ tội, xin Thiên-triều rút quân; từ nay lại thần phục tiến cống như cũ. Để tỏ lòng hối lỗi, Giao-chỉ đem bẩy vạn tù binh bao gồm tướng tá, cao thủ võ lâm do hạm đội Âu-Cơ chở đến Quảng-châu trao cho quan trấn thủ. Chiến thuyền sẽ cập bến chậm nhất là ngày rằm tháng hai này. Nguyên soái đã cử người tiếp dẫn sứ Giao. Sứ Giao với viên tiếp dẫn dùng ngựa phi bất kể ngày đêm, nên hôm qua đã đến Biện-kinh dâng biểu. Hoàng-thượng cùng chư đại thần hội ở Thiên-chương các. Quan giám sát ngự sử Thái Thừa-Hi dâng sớ tâu rằng: Mục đích ra quân để trừng phạt Giao-chỉ, thế mà nay nó đã đến cửa trời nép mình nhận tội thì cũng nên tha cho nó để tỏ lượng bao dung. Tể tướng Ngô Sung cùng các đại thần đều tâu xin hoàng thượng nghe lời Thái ngự sử, tuyên chỉ rút quân..
Khúc Chẩn hỏi:
– Hôm qua sứ Giao mới dâng sớ, mà sao nay tin đã đến đây được?
Quách Quỳ trả lời:
– Tiếp dẫn sứ có mang theo Ưng-binh của Giao-chỉ. Y dùng chim ưng gửi tin về, nên sáng nay ta đã biết.
Ôn Cảo tiếp:
– Ngày mùng một tháng hai vừa qua Thiên-Thành, Cảnh-Long từ trong rừng đổ ra tái chiếm Lạng-châu; Trần Thanh-Nguyên, Tôn Mạnh tái chiếm Quyết-lý; Lý Tam tái chiếm Chi-lăng. Nguyên soái đã lệnh cho đô tổng quản Yên Đạt đem quân vượt thượng đạo tái chiếm Lạng-châu; phó đô tổng quản Khúc Chẩn tái chiếm Quyết-lý; tướng quân Miêu Lý tái chiếm Chi-lăng. Quan quân phải khó nhọc lắm mới đánh được ba ải. Quân Giao bỏ ba ải rút vào rừng. Nguyên soái truyền ba tướng đóng đồn bảo vệ đường tiếp tế. Giữa lúc quân ta đang giao chiến khốc liệt với quân Giao, thì thình lình hạm đội Động-đình từ biển Đông tiến vào Phú-lương. Thân Thiệu-Thái dùng hạm đội này chở hiệu Bổng-nhật, Vũ-thắng, Phù-đổng, Hoa-lư vượt sông rồi đóng đồn lập phòng tuyến. Phía Vạn-xuân, Lê Văn đem hiệu Thần-điện, Long-dực tới chân núi Nham-biền đóng trại. Với lực lượng của ta hiện giờ, không đủ quân số đuổi Thiệu-Thái, Lê Văn về Nam ngạn. Ta bị ép ba phía.
Miêu Lý hỏi:
– Hiệu binh Hoa-lư là hiệu binh nào, tôi chưa từng nghe qua!
Ôn Cảo chỉ Yên Đạt, Khúc Chẩn:
– Nguyên khi Yên, Khúc tướng quân vượt sông đánh Yên-dũng. Hai huynh sai bắt hơn hai nghìn trâu, làm lá chắn cho xe trâu đẩy để tấn công. Không ngờ tên Lý Đoan xuất thân là mục đồng, y từng dùng trâu tập trận nhái theo phương pháp của vua Đinh Tiên-hoàng. Lý tập trung hơn ba chục trẻ chăn trâu, rồi dùng đám trẻ này nói tiếng nói loài trâu, sai trâu dàn trận quay lại đánh ta. Sau trận đó đám trẻ chăn trâu không chịu trở về, chúng quyết xin ra trận. Linh-Nhân hoàng thái hậu trước đây cũng từng chăn trâu. Bà ta mới tập hợp hơn ba trăm trẻ chăn trâu với hai nghìn trâu lại, rồi lập thành hiệu binh Hoa-lư. Hiệu binh này lợi hại hơn hổ, báo nhiều. Chúng buộc dao vào sừng, buộc giáo vào lưng trâu, rồi dàn trận, tiến lui uyển chuyển vô cùng.
Yên Đạt chửi thề:
– Tổ bà bọn Giao-chỉ thực xảo quyệt. Một mặt chúng sai sứ sang tạ tội, một mặt chúng vẫn tiến binh. Thì ra cái việc sai sứ sang tạ tội chỉ là một đòn khiến hoàng thượng không gửi viện quân cho ta. Làm sao bây giờ?
Ôn Cảo tiếp:
– Chưa hết đâu! Ngày mùng ba tháng hai, triều đình được tin tổng đàn phái Liêu-Đông bị một bọn lạ mặt đánh phá hôm rằm tháng giêng. Chúng thiêu rụi năm trăm nóc gia, đốt bài vị một trăm linh bẩy liệt tổ phái này, giết hết những đệ tử hiện diện. Chúng còn tàn nhẫn giết hết bố mẹ, vợ con, anh em, tôi tớ, trâu bò, chó mèo, gà vịt của Liêu-Đông tam ma. Nếu chúng ta hiện diện thì biết ngay bọn Giao-chỉ ra tay. Nhưng quan quân địa phương vốn thù ghét đệ tử phái này, nên khi thấy phái này bị tuyệt diệt, thì mừng hớn hở, rồi dâng biểu về triều tâu rằng chúng bị cướp giết chết. Triều đình tin là thực.
Tu Kỷ cười nhạt:
– Giết tàn nhẫn như vậy, trên thế gian e chỉ có mình Mộc-tồn hòa thượng mà thôi. Điều này cũng tại Liêu-Đông tam ma huênh hoang đóng cũi hăm bắt Minh-Không, Đạo-Hạnh, Lê Văn, Mộc-tồn, Viên-Chiếu đóng cũi giải về kinh mà ra. Nghe nói trận đánh đêm 21 tháng giêng, Tam-ma bị Mộc-tồn bắt đóng cũi giải giao cho Kinh-Nam vương. Hơn trăm đệ tử cũng bị bắt một lúc. Không biết hiện giờ tình trạng chúng ra sao?
Y hỏi Triệu Tiết:
– Nghe nói, trận đánh đêm 21 sang ngày 22 vừa qua, Hoa-sơn tứ lão bị Mộc-tồn, Viên-Chiếu, Phụ-Quốc, Bảo-Dân đánh trọng thương, mê man, rồi bắt sống. Nay không biết tình trạng ra sao ?
Kể về vai vế trong phái Hoa-sơn thì Triệu Tiết, Khúc-Chẩn, công chúa Huệ-Nhu đều ngang vai với Hoa-sơn tứ lão. Y đáp:
– Bốn vị sư đệ đều bị Mộc-tồn, Viên-Chiếu dồn thuốc nhuyễn cân vào Tam-tiêu kinh, cho nên vẫn còn mê man. Tôi đã sai người báo với công chúa Huệ-Nhu, để người vận động với Kinh-Nam vương xin thuốc giải của Mộc-tồn hòa thượng. Không ngờ gã thầy chùa ăn thịt chó này không coi Kinh-Nam vương ra gì cả. Y nói, đợi sau khi hết chiến tranh, y sẽ cho thuốc giải.
Ôn Cảo tiếp:
– Hôm qua, bọn Giao-chỉ từ bên kia sông bắc loa gọi sang, báo cho ta biết, lát nữa chúng sẽ xử tử bọn Việt theo ta bị bắt và xử một số tướng sĩ ta giết hại dân của chúng. Vì vậy Nguyên-soái cho mời chư vị đến hội để cho biết ý kiến.
Khúc Chẩn đề nghị:
– Bọn Việt xử bọn Việt là việc của chúng với nhau, ta chẳng nên quan tâm. Tuy nhiên chúng xử tướng sĩ của ta, thì ta không thể ngồi yên.
Trương Thế-Cự xua tay:
– Chúng xử những người của ta, nhưng những người đó vốn tàn ác, vô pháp, vô thiên. Ta nên ngồi khoanh tay để cho chúng giết dùm, ta khỏi phải giết.
Đến đó, quân vào báo:
– Trình Nguyên-soái, một con thuyền của Giao-chỉ dương buồm không người chèo lái cập bến. Trên thuyền có nhiều tù binh. Xin Nguyên-soái định liệu.
Quách Quỳ vội cùng chư tướng ra bờ sông xem xét tình hình: Trên con thuyền lớn có ba cái cũi, trong mỗi cũi giam một trong Liêu-Đông tam ma. Ngoài ra, còn hơn trăm đệ tử phái này ngồi xếp hàng dưới thuyền, cổ mỗi người đều đeo một cái xương đầu chó. Bất giác Triệu Tiết kêu lên:
– Mộc-tồn hòa thượng!
Quách Quỳ sai y sĩ xuống thuyền quan sát xem sao bọn này lại ngồi im như vậy? Y sĩ nhảy xuống kiểm điểm từng người, rồi nói vọng lên:
– Trình nguyên soái, tất cả đều bị trúng Hoá-công độc chưởng của chính phái Liêu-Đông. Còn Liêu-Đông tam ma thì bị dồn thuốc độc vào kinh mạch khiến mắt mù, lưỡi cứng, chân tay tê liệt.
Tại phía Bắc chiến lũy Như-nguyệt, thuộc Đại-Việt
Ngày 27 tháng hai, niên hiệu Anh-vũ Chiêu-thắng thứ nhì đời vua Lý Nhân-tông bên Đại-Việt, bên Trung-nguyên là niên hiệu Hy-Ninh thứ mười đời vua Thần-tông nhà Tống (Kỷ Tỵ, DL.1077).
Hôm qua Quách Quỳ họp chư tướng, ban lệnh hôm sau vào lúc nửa đêm sẽ rút quân. Chư tướng được lệnh thì mừng chi diết kể. Sáng nay chư tướng cùng Quỳ vừa định xong kế sách lui quân, thì một chiến thuyền của Đại-Việt, trên có cây cờ lớn với hàng chữ :
« Kinh-Nam vương khâm sứ »,
Đang từ từ cập bến Bắc-ngạn. Quân Tống vội báo cho Quách Quỳ, Triệu Tiết biết. Hai người cùng chư tướng kéo nhau ra bờ sông đón.
Bốn sứ giả là ba thế tử Vị-Hoàng, Thiên-Trường, Linh-Cơ và quận chúa Minh-Thúy.
Lễ nghi tất.
Thế tử Vị-Hoàng cung tay:
– Thưa Nguyên-soái, không hiểu sao Đại-Việt biết rằng đêm nay nguyên soái cùng chư tướng rút quân về, nên họ chuẩn bị truy kích, cùng phục binh đánh tiêu diệt toàn quân.
Quách Quỳ kinh hãi đến lạnh người, vì lệnh rút quân y mới chỉ báo cho các tướng. Đợi đêm đến mới truyền cho quân âm thầm lên đường, thế mà sao Đại-Việt lại biết được?
Vị-Hoàng tiếp:
– Nguyên-soái Lý Thường-Kiệt đã chuẩn bị sẵn: Đúng giờ Tý đêm nay, khi quân ta bắt đầu rút, thì cũng là lúc U-bon vương Lê Văn mang hiệu Thần-điện, Long-dực tiến về đây đánh ép bên trái. Phò mã Thân Thiệu-Thái, vua bà Bình-Dương mang hiệu Phù-đổng, Hoa-lư tiến về đánh vào phía phải. Trong trường hợp đó, quân ta tất ùn ùn bỏ chạy. Khi ta chạy về đến Chi-lăng, thì đô thống Lý Tam, Mai Tam sẽ đổ phục binh ra đánh cắt vào khúc giữa. Khúc đầu chạy về tới Quyết-lý lại bị cộng chúa Côi-sơn Trần Thanh-Nguyên với phò mã Tôn Mạnh phục binh đánh cắt nửa sau. Rút cuộc chỉ còn tiền quân. Tiền quân về đến biên giới lại bị công chúa Thiên-Thành với phò mã Thân Cảnh-Long bao vây tiêu diệt.
Quách Quỳ với chư tướng phát run.
Vị-Hoàng tiếp:
– Vương mẫu thương cho chư tướng, chư quân, ra đi trăm vạn, mà bây giờ về không còn quá mười vạn, lại sắp bị giết hết. Người năn nỉ xin phụ vương ra tay tế độ cứu chư tướng với đoàn quân sống sót này. Phụ vương đã yết kiến Linh-Nhân hoàng thái hậu, điều đình việc này. Thái-hậu đồng ý không cho truy kích, phục binh đánh chư tướng nữa. Phụ vương sợ rằng trong khi chư tướng rút quân, có thể gặp quân Việt, rồi ngộ nhận chăng. Nên người sai anh em chúng tôi đến đây dẫn chư tướng rút quân.
Vị-Hoàng chỉ Linh-Cơ với Minh-Thúy:
– Hai em tôi đi với tiền quân. Còn tôi với Thiên-Trường đi với hậu quân. Thôi, bây giờ chư vị có thể ban lệnh cho chư quân nhổ trại rút quân thư thả, mà không sợ truy binh.
Quách Quỳ mừng chi siết kể, y ra lệnh cho Đào Bật, Khúc Chẩn đi đoạn hậu; Yên Đạt, Tu Kỷ dẫn đầu. Còn lại y với chư tướng đi theo trung quân.
Quân sĩ ồn ào nhổ trại, xe, ngựa nối đuôi nhau lên đường. Đoàn quân của Tu Kỷ, Yên Đạt vượt qua Chi-lăng yên tĩnh. Khi vừa tới Quyết-lý thì có ba tiếng Lôi-tiễn nổ trên không, rồi trống thúc vang dội, quân reo, ngựa hí, cờ xí dựng lên rợp trời. Quân Việt gươm giáo sáng ngời dàn dài theo sườn núi. Tu Kỷ, Yên Đạt thấy mình lọt vào trận phục binh thì kinh hãi đến rụng rời chân tay. Tuy vậy y cũng ra lệnh cho quân chuẩn bị chiến đấu.
Ba tiếng Lôi-tiễn nữa nổ trên trời. Tiếng quân reo, tiếng tống thúc im bặt, rồi từ trong sườn núi đôi nam nữ cỡi ngựa tiến ra. Tu Kỷ nhận được nữ là Côi-sơn công chúa Trần Thanh-Nguyên với chồng là phò mã Tôn Mạnh. Côi-sơn công chúa quát lớn:
– Tu Kỷ, Yên Đạt, mau xuống ngựa đầu hàng. Bằng không ta ra lệnh buông tên, thì các người sẽ bị tên ghim vào mình như con nhím ngay.
Đội quân Tống đi đầu này toàn là bệnh binh đang bị sốt rét hành, người hết lực, chân bước không nổi, bây giờ bị trúng phục binh, họ chỉ còn có nước quỳ gối xin hàng. Người người nhìn nhau, chân tay run rẩy.
Thế tử Linh-Cơ, với quận chúa Minh-Thúy vội vọt ngựa lên. Hai người cung tay:
– Điệt nhi xin tham kiến cô mẫu.
Công chúa Côi-sơn hỏi:
– Linh-Cơ, Minh-Thúy! Hai con đi đâu đây?
Minh-Thúy đáp:
– Linh-Nhân hoàng thái hậu ban chỉ rằng, Tống-Việt đã hòa, Việt phải mở đường cho Tống rút quân. Vì vậy phụ vương sai chúng cháu dẫn đầu đoàn quân này, để thưa rõ với cô.
– Thế thì được!
Công chúa cầm cờ phất một cái, quân Việt rẽ ra làm hai, mở đường cho bọn Yên Đạt, Tu Kỷ dẫn quân đi.
Đấy là tiền quân, còn đội hậu quân, trại vừa nhổ xong, sắp lên đường thì trống thúc vang đội, quân reo, ngựa hí, trâu rống rung chuyển trời đất từ xa vọng lại. Thám mã báo với Đào Bật, Khúc-Chẩn:
– Có một đoàn kị mã đông đến năm nghìn ngựa, hai nghìn trâu, thế mạnh nghiêng trời lệch đất đang tiến về đây.
Quân Tống kinh hoàng định bỏ chạy. Đào Bật cầm gươm quát:
– Ai rời hàng ngũ ta chém liền.
Lát sau Vũ-kị đại tướng quân Hà Mai-Việt dẫn đầu một đoàn kị mã, phía sau là Hổ-đói, Báo-mập, Gấu-lùn dẫn đầu đạo binh Hoa-lư rầm rập tiến tới. Ba người không mặc giáp trụ, mà mặc quần áo nâu chít khăn như nông dân.
Đào Bật hỏi:
– Linh-Nhân hoàng thái hậu đã hứa không truy kích bọn ta, hà cớ các người lại đem kị binh, kị ngưu đuổi theo. Đạo lý ở chỗ nào?
Hổ-đói xòe hai tay ra, tỏ rằng mình không mang vũ khí:
– Đào tướng quân lầm rồi! Thái-hậu đã ban chỉ, thì dù cho chúng tôi có nghìn cái đầu cũng không dám vi phạm. Chúng tôi nghĩ trước đây vì cái ngu của Vương An-Thạch, mà các vị với chúng tôi phải chém giết nhau. Nay Tống Thiên-tử đã hiểu ra, ban chỉ cho các vị rút lui, chúng tôi tới đây mời các vị uống chung rượu tạm biệt cùng kết thân đấy chứ!
Nói rồi nó gân cổ lên kêu mấy tiếng « Nghée..ée ơi! » . Năm con trâu kéo xe, rời hàng ngũ từ từ tiến tới. Trên xe chở nào trâu thui, lợn quay, gà luộc, giò chả với mấy chục hũ rượu. Hà Mai-Việt sai bầy thực phẩm, rượu ra, rồi cùng bọn Hổ-đói, Báo-mập, Gấu-lùn thân rót rượu, cắt thịt mời Đào Bật, Khúc Chẩn binh tướng hậu đội ăn uống.
Ăn no uống say xong, Đào, Khúc cho quân lên đường. Hà Mai-Việt, với bọn tướng trâu cỡi ngựa, cỡi trâu cùng tiến bước. Người không hiểu sự việc, cứ tưởng đoàn quân của Đào, Khúc với hiệu Phù-đổng, Hoa-lư là một !
Trong khi đi, Đào bật chửi thầm:
– Bọn Giao-chỉ thực là xỏ lá. Rõ ràng chúng đem kị mã, kị ngưu dọa ta, theo sát ta làm cho quân ta phát run, mà chúng lại làm ra vẻ tử tế! Đểu thực, mà cũng đáng nể thực.
Lại nói trung quân của Quách Quỳ với chư tướng đã rút về tới Chi-lăng. Quân đang nối đuôi nhau đi vào khúc đường hẹp. Thình lình ba tiếng vi vu rít trên không, chư tướng Tống bết rằng đó là tiếng rít của Lôi-tiễn, bất giác người người nhìn nhau, như cùng nói với nhau:
– Bọn Việt phục binh ở đây, thì e chúng ta khó mà toàn thây!
Đến đó ba tiếng nổ rung chuyển trời đất, rồi trống thúc vang lừng, quân reo dậy đất. Từ hai bên rừng cờ xí kéo lên bay phất phới, quân Việt dàn khắp các hốc đá, gươm đao sáng ngời. Quách Quỳ ra lệnh cho quân chuẩn bị giao chiến, thì từ trong rừng, một đôi trai gái cỡi ngựa tiến ra. Hai người tuổi khoảng trên dưới hai mươi. Trai thì phong lưu tiêu sái, gái thì đẹp sắc nước, hương trời. Phía sau đôi trai gái có đội hơn trăm nam nữ tấu đủ thứ âm nhạc, mà lại là nhạc chiến thắng của Hán Cao-tổ xưa. Sau đội nhạc tới mười xe do trâu kéo, trên chở trâu thui, lợn quay, gà luộc, giò chả.
Nam cung tay nói lớn:
– Có Quách đại nguyên soái của Thiên-triều đó chăng?
Quách Quỳ vọt ngựa tới trước:
– Ta là Quách nguyên soái đây? Người là ai?
Cặp trai gái vội xuống ngựa chắp tay hành lễ:
– Tiểu nhân là đô thống Lý Tam cùng vợ là Mai Tam thống lĩnh hiệu Thiên-tử binh Quảng-vũ, tuân chỉ Linh-Nhân hoàng thái hậu đem rượu thịt chờ tiễn Nguyên-soái cùng chư vị tướng quân đăc thắng hồi triều. Thái-hậu tuyên chỉ rằng: Giữa chư tướng, chư quân Tống-Việt không hề thù oán nhau. Chẳng qua vì Tống Thiên-tử nghe tên hủ nho Vương An-Thạch, mà cả hai bên cùng có kẻ chết, người bị thương. Nay Nguyên-soái hồi triều, chúng tôi phải đem rượu thịt tiễn đưa để kết thâm tình.
Quách Quỳ biết đây là đòn hù dọa của Đại-Việt với y: Nếu ta phục binh ở chỗ này, thì các người không cò một mạng. Mặt khác, lại vuốt mặt cho việc tút quân.
Quỳ với chư tướng, quân uống rượu, ăn thịt rồi lên đường. Lý Tam, Mai-Tam cúi đầu chào, đội nhạc lại đánh bản chiến thắng đời Hán Cao-tổ.
Rời Chi-lăng, ra khỏi vùng phục binh của hiệu Quảng-vũ, Quách Quỳ với chư tướng thở phào một cái, người người tự nói với mình: Thoát chết!
Quỳ đi một quãng nữa, thì gặp mấy viên đô thống có nhiệm vụ trấn đóng ở các trang động mới chiếm được; mặt tên nào cũng hơ hải tỏ ra kinh sợ cùng cực. Quách Quỳ hỏi:
– Việc gì đã xẩy ra?
Một viên đô thống đáp:
– Trình nguyên soái, Thân Cảnh-Long với vợ là Thiên-Thành đem quân đánh chiếm lại tất cả các trang động của Đại-Việt, kể cả trang động của ta, mà bọn động chủ dâng cho triều đình.
Triệu Tiết chửi tục:
– Tổ bà nó! Bề ngoài nó tổ chức tiễn đưa để dọa mình, làm như là lễ phép với Thiên-triều, sự thực chúng lại dùng sức mạnh tái chiếm đất. Bây giờ ta như cá nằm trên thớt thì mong gì giữ nổi mấy trang động?
Đâu đó từ trong rừng tiếng loa hướng vào quân Tống đọc Thiên-thư:
Nam-quốc sơn hà, Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên-thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư?

............
Xem tiếp bộ Anh hùng Đông A dựng cờ bình Mông

global

Tổng hợp deal ngon trên Internet

Hồi trước